Cá Cảnh 37

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề Cá Cảnh 37 xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 27/01/2021 trên website Lumiaappcampuschallenge.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung Cá Cảnh 37 để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, chủ đề này đã đạt được 9.900 lượt xem.

Có 912 tin bài trong chủ đề【Cá Cảnh 37】

【#1】Cho Cá Betta Bột Ăn Artemia ; Phương Pháp Ấp Và Khái Niệm Về Artemia

Artemia – thức ăn cho cá bột

Tiến sĩ Frank Marini

Giới thiệu

Trong số những nguồn thức ăn tươi sống sử dụng trong ngành chăn nuôi thuỷ sản, ấu trùng artemia được sử dụng rộng rãi nhất chủ yếu là vì những tiện nghi và lợi ích mà chúng mang lại. Công dụng của sự chuyển hóa sinh học (bioencapsulation) này đóng một vai trò quyết định trong việc duy trì tỷ lệ sống của ấu trùng, sự tăng trưởng, quá trình lột xác và chất lượng của rất nhiều loài cá cũng như giáp xác. Nguyên tắc chuyển hóa sinh học thường được áp dụng để chuyển hóa các chất như vitamin, thuốc chữa bệnh và vacxin mà chúng càng nâng cao vị thế quan trọng của artemia trong ngành công nghiệp chăn nuôi thủy sản.

Hình 1. Vòng đời của artemia. Ảnh Jason Chaulk.

Hình 2. Sơ đồ mô tả công dụng của artemia như là trung gian chuyển hoá các chất dinh dưỡng đặc biệt cho cá bột.

Vòng đời của artemia

Vòng đời của artemia bắt đầu từ khi trứng nở. Trứng là một phôi thai thụ động, chúng có thể ở trạng thái tiềm sinh trong nhiều năm chừng nào còn được giữ khô và có đầy đủ ôxy. Khi trứng được bỏ vào nước muối, chúng hút nước và bắt đầu phát triển. . Gần 24 tiếng sau, ấu trùng chuyển sang giai đoạn 2. Những hạt thức ăn có kích thước từ 1 đến 50 µm được hút vào ống tiêu hóa. Trong 8 ngày kế tiếp, ấu trùng tăng trưởng và phát triển qua 15 giai đoạn trước khi đạt đến độ bán trưởng thành. Artemia trưởng thành có kích thước khoảng 8 mm nhưng cũng có thể đạt 20 mm trong môi trường lý tưởng. Chúng có chiều dài gấp 20 lần và thể tích gấp 500 lần so với ấu trùng. Artemia đực có một cặp gai sinh dục ở cuối thân còn artemia cái trưởng thành có thể dễ dàng được nhận dạng qua túi trứng Sự hình thành lớp vỏ này khởi đầu cho trạng thái tiềm sinh và bào nang được con cái phóng thích (phương thức đẻ trứng), chúng dạt lên bờ và khô đi. Artemia cái có thể thay đổi từ phương thức sinh sản này sang phương thức sinh sản khác.

Artemia trưởng thành có thể chịu đựng được tầm nhiệt độ từ -18 đến 40 độ C. Có sự khác biệt giữa các dòng artemia về nhiệt độ tối ưu để trứng nở và sự tăng trưởng ở con trưởng thành. Nhiệt độ tối ưu với dòng artemia ở vịnh San Francisco là 22 độ C so với 30 độ C với dòng artemia ở hồ Lớn (Bossuyt, 1980). Artemia phù hợp với độ mặn 30-35 mg/l và có thể sống trong nước ngọt lâu đến 5 giờ.

Hình 6. (trên) Artemia cái với buồng trứng (giữa và dưới) Hình dạng thân và đầu của artemia đực. Ảnh Jason Chaulk.

Thức ăn

Artemia là loài ăn uống không kén chọn, chúng ăn từ bã hữu cơ, vi tảo đến vi khuẩn. Thức ăn không được tiêu thụ trực tiếp mà được đưa vào miệng thành từng gói. Nếp gấp giữa những cái chân mở rộng khi chúng khua về phía trước. Nước được hút vào vùng này từ phía dưới và những cái lông mao lọc lấy thức ăn từ dòng nước. Khi những cái chân khua về phía sau, nước bị đẩy ra khỏi vùng này và thức ăn được giữ lại trong một rãnh ở giữa mỗi chân. Rãnh này tiết ra chất keo dính để gắn kết thức ăn thành từng viên. Một khi những viên thức ăn đã sẵn sàng, các lông mao sẽ di chuyển chúng đến miệng. Kích thước tối đa của các viên thức ăn là 50 µm với ấu trùng và 60 µm với artemia trưởng thành.

Điều kiện để trứng nở

Mặc dù việc ấp một số lượng nhỏ trứng Artemia rất đơn giản nhưng rất nhiều thông số cần phải cân nhắc để trứng nở :

– Lồng ấp

– Sục khí

– Nhiệt độ

– Độ mặn

– pH

– Mật độ trứng

– Độ chiếu sáng

Lồng ấp có đáy hình nón và sục khí từ phía dưới cho kết quả nở tốt nhất (Lavens, 1990). Lồng ấp hình trụ và khối có điểm chết mà trứng và ấu trùng bị dồn cục ở đó. Lồng ấp bằng nhựa trong (như lọ nước suối 2 lít) thực sự hữu ích vì nó cho phép kiểm tra quá trình ấp.

Cần phải sục khí đủ mạnh để duy trì nồng độ ôxy đủ cao bởi vì nồng độ ôxy càng cao thì tỷ lệ nở càng cao (Tackaert, 1991). Tránh làm tràn bọt vì trứng ngậm nước sẽ bị cuốn ra ngoài cùng với bọt. Ở nhiệt độ lý tưởng 25-28 độ C trứng sẽ nở tối đa; dưới 25 độ C trứng sẽ nở chậm còn trên 33 độ C thì trứng ngừng nở. Báo cáo từ những cơ sở ươm nuôi cá bột đề nghị rằng chiếu sáng mạnh (gần 2000 Lux trên mặt nước) sẽ cho tỷ lệ nở tối đa và nên bắt đầu chiếu sau khi ngâm trứng vào nước 1 giờ để kích hoạt sự phát triển của phôi thai (Vanhaecke, 1981). Tóm lại, những điều kiện lý tưởng để trứng nở gồm: nhiệt độ 25 độ C, độ mặn – 1.0030, độ pH từ 8 đến 8.5, sục khí thật mạnh và liên tục.

Nuôi dưỡng artemia

Như đã đề cập ở phần giới thiệu, yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến giá trị dinh dưỡng của artemia ở khía cạnh như là nguồn thức ăn của các ấu trùng cá biển là lượng acid béo. Hầu hết ấu trùng cá biển không có khả năng tổng hợp các acid béo (HUFA) và do đó phải được nuôi dưỡng bằng thức ăn có chứa các loại acid này. Để đảm bảo cung cấp đủ HUFA, chúng ta phải nuôi ấu trùng artemia bằng thức ăn có acid béo. Một khi ấu trùng artemia chuyển sang giai đoạn 2 (khoảng 8 giờ sau khi nở) chúng ta có thể trộn chất béo vào khẩu phần thức ăn của chúng. Kỹ thuật chuyển hóa sinh học này còn gọi là “làm giàu” artemia (hay nuôi thúc) được sử dụng rộng rãi trong ngành ươm nuôi cá bột. Những chất làm giàu khác cũng được sử dụng nuôi thúc artemia để tập trung vào một thành phần nào đó trong khẩu phần ăn của cá, những chất này bao gồm vi tảo, men, nguyên tố vi lượng và chất tự phân (self-emulsifying). Theo Lavens (1987), mức độ làm giàu cao nhất đạt được là khi thêm chất tự phân chẳng hạn như Selco vào thức ăn của artemia. Selco (còn gọi là Selcon hay siêu Selco) là chất tổng hợp của một số loại dầu cá chọn lọc, vitamin và carotenoids; khi được hòa vào nước biển thì chúng tan thành những phần tử cực nhỏ mà artemia có thể ăn được.

Tách vỏ trứng

Lớp vỏ cứng bao bọc phôi thai có thể được lấy đi hết bằng cách trộn với một dung dịch tách. Công đoạn này được gọi là tách vỏ trứng và nó có một số ưu điểm so với việc không tách vỏ trứng:

a) Vỏ trứng không lẫn vào hồ ươm cá bột. Khi nở, ấu trùng artemia thường lẫn với vỏ. Trứng hư và vỏ trứng có thể gây hậu quả không tốt cho cá bột một khi chúng ăn phải, thường thì chúng không thể tiêu hóa được vỏ trứng và có thể bị tắc ruột.

b) Ấu trùng không lẫn với vỏ trứng thường tăng trưởng tốt hơn về dinh dưỡng và trọng lượng so với ấu trùng nuôi bình thường (30-35% tùy theo dòng).

c) Tránh lây bệnh từ trứng. Trứng hư có thể là nguồn lây nhiễm bệnh, may mắn là điều này ít khi xảy ra khi ươm nuôi tại nhà.

d) Phôi thai đã tách vỏ có thể ngay lập tức được đem nuôi ấu trùng cá và tôm.

e) Cường độ chiếu sáng áp dụng cho phôi thai đã tách vỏ thấp hơn.

Công đoạn tách vỏ artemia đòi hỏi trước tiên phải ngâm trứng (chỉ có thể tách vỏ một khi trứng trương nước), trộn với dung dịch tách để lấy đi lớp vỏ ngoài màu nâu, tiếp theo là rửa và làm trung hòa dung dịch tách còn dư. Những phôi thai được tách vỏ có thể đem cho nở thành ấu trùng ngay lập tức hay làm mất nước trong dung dịch muối đậm đặc và đem cất để ấp sau. Sau cùng, trứng đã tách vỏ có thể đem nuôi cá ngay. Trứng artemia đã tách vỏ có thể dự trữ vài ngày trong ngăn lạnh mà không làm ảnh hưởng đến tỷ lệ nở. Tóm lại, nói chuyện khoa học đến đây là quá đủ, hãy bắt đầu vào phần chính.

Ấu trùng artemia

Ấu trùng artemia là nguồn thức ăn thông dụng cho cá bột. Thông thường, sau khi được nuôi bằng các loại vi sinh vật, ấu trùng cá cần ăn những loại thức ăn lớn hơn. Ngoài ra, ấu trùng artemia có thể thay thế loại thức ăn là các sinh vật phù du kích thước lớn cho một số loại động vật thân mềm kiếm ăn bằng cách lọc nước.

Ấp artemia tại nhà

Ấp artemia rất đơn giản. Bất cứ dụng cụ nào có hình nón đều có thể dùng để ấp artemia. Đồ vật thông thường như chai nước suối 2 lít là một dụng cụ ấp lý tưởng. Nếu bạn thích ấp theo kiểu hi-tech thì trên mạng cũng có bán loại bồn ấp trong suốt hình nón dung tích khoảng 3.5 lít. Nhiều tiệm bán dụng cụ ấp hiệu Sally là một đế cao su cứng mà một chai nước suối 2 lít có thể cắm ngược lên đó

Hình 7. Một hộp trứng artemia với bồn ấp bằng chai nước suối 2 lít gắn trên đế cao su hiệu Sally. Bồn ấp kiểu này rất phổ biến. Hộp trứng có thể trữ lạnh và sử dụng dần từ 6 tháng đến 1 năm tuỳ nhu cầu. Ảnh James Wiseman.

Hình 8. Sơ đồ mô tả bồn ấp đơn giản làm bằng bình nước suối 2 lít. Hình Matt Lidenfelser.

Sử dụng nước muối để ấp artemia. Wilkerson (1998) khuyên sử dụng loại muối hột rẻ tiền với độ mặn thấp. Hòa 2 muỗng trà muối hột với 2 lít nước máy (đã hả chlor). Khi muối tan hết, sục khí khoảng 1 giờ rồi thêm vào gần ¼ muỗng trà trứng artemia. Sục khí đầy đủ sẽ làm tỷ lệ nở cao và ấu trùng mạnh khỏe. Không nên sử dụng đầu sục khí (airstone) mà nên dùng ống nhựa cứng gắn vào đáy của bồn ấp. Đừng ngại sục khí mạnh. Bọt khí có thể làm nước xáo động mạnh. Khi trứng đã trương nước, chúng có thể bị các bọt khí đem theo lên mặt nước và bay ra ngoài vì vậy nên giảm cường độ sục khí đi một ít. Đảm bảo rằng bồn sục khí của bạn được chiếu sáng trong ngày đầu tiên và trong từ 16-20 giờ kế tiếp bạn có thể thấy ấu trùng artemia xuất hiện. Ấu trùng mới nở rất bổ dưỡng và có thể đem nuôi cá con ngay. Túi dinh dưỡng ở ổ bụng làm cho ấu trùng có màu vàng. Nhân thể, nếu bạn nuôi cá hề bột (clownfish) bạn phải nuôi chúng bằng ấu trùng mới nở dưới 30 giờ vì nếu để lâu hơn thì ấu trùng lớn quá cá con không ăn nổi. Nếu bạn để sau 24 giờ thì ngày hôm sau túi dinh dưỡng đã được tiêu thụ hết; ấu trùng bắt đầu ăn và có thể được nuôi thúc bằng thức ăn có chứa thành phần dinh dưỡng đặc biệt.

Nuôi và làm giàu artemia

Artemia là loài ăn uống không kén chọn và do đó tiêu thụ được nhiều loại thức ăn khác nhau. Tiêu chuẩn chung để chọn thức ăn là kích thước, khả năng tiêu hóa và mức độ dinh dưỡng (Dobbeleir, 1980). Có lẽ những loại thức ăn tốt nhất cho artemia là các loại vi tảo như Nannochloropsis, Tetraselmis, IsochrysisPavlova. Thực tế, việc kết hợp nhiều loại vi tảo trong nuôi dưỡng artemia đã chứng tỏ kết quả làm giàu artemia siêu việt (tức gia tăng HUFA) so với việc nuôi chỉ bằng một loại vi tảo (d’Agostino, 1980) [ Hình 9]. Tuy nhiên, không phải loại tảo đơn bào nào cũng thích hợp cho sự tăng trưởng của artemia. Ví dụ như các loại tảo ChlorellaStichococcus có lớp màng tế bào dày mà artemia không thể tiêu hóa được. Ngoài ra, artemia còn được làm giàu bằng vô số loại thực phẩm đóng gói rất tiện lợi cho việc nuôi artemia tại nhà. Những thức ăn đóng gói bao gồm men (như men bia chẳng hạn), thức ăn của cá, bột đậu nành, lòng đỏ trứng và bột gạo. Vi tảo đóng gói dưới dạng ống keo (hiệu Tahitian có bán ở chúng tôi từng được sử dụng một cách thành công. Một vấn đề cần chú ý khi sử dụng thức ăn đóng gói đó là đừng cho artemia ăn quá nhiều, thức ăn có thể nhanh chóng gây ra vấn đề. Cách đơn giản nhất để kiểm tra chất lượng nước bồn ấp là xem nước có trong hay không. Theo Schumann, điều này có thể được thực hiện rất dễ bằng cách sử dụng một thanh gỗ (dài tối thiểu 30 cm) trên thân có khắc những vạch chia (thang cm), ở đầu chốt gỗ gắn một đĩa có mầu đen và trắng xen kẽ, giống như đĩa Secchi thu nhỏ ( http://en.wikipedia.org/wiki/Secchi_disk). Độ sâu mà ở đó sự tương phản giữa các vùng đen và trắng trên đĩa biến mất sẽ là độ chiếu của ánh sáng hay độ trong của nước. Cho nhiều thức ăn sẽ làm nước bớt trong. Với mật độ 5000 ấu trùng/lít, độ trong suốt sẽ là từ 15-20 cm ở tuần đầu tiên, và 20-25 cm ở những tuần sau đó. Để việc sản xuất và làm giàu artemia được tối ưu, cần duy trì một mức độ thức ăn tối ưu trong bồn ấp, vì vậy cho ăn thường xuyên và liên tục là tốt nhất. Tôi thấy nuôi artemia bằng vi tảo cực kỳ tốt và cá bột ăn ấu trùng được nuôi bằng vi tảo tăng trưởng rất nhanh. Bên cạnh vi tảo, tôi cũng giới thiệu chất tự phân Selco để tăng lượng UHFA. Để làm giàu, ấu trùng artemia từ 24 đến 30 giờ tuổi được chuyển vào bồn nuôi mới, nơi đó chất tự phân được cho vào với nồng độ 1 mg/lít và sục khí liên tục. Sáu giờ sau, ấu trùng đã làm giàu được thu hoạch. Theo kinh nghiệm của tôi, không cần làm khô ấu trùng làm gì, cứ đem chúng nuôi cá trực tiếp.

Hình 9. Ba bồn ấp bằng chai nước suối 2 lít và bốn lọ nuôi vi tảo. Vi tảo được sử dụng để nuôi ấu trùng artemia. Những ống sục khí được lấy đi để thu hoạch ấu trùng. Ảnh Ray Jay.

Thu hoạch ấu trùng

Khi thu hoạch, chỉ đơn giản ngừng sục khí và để khoảng 10 phút cho tất cả lắng xuống. Vỏ trứng nổi lên mặt nước còn ấu trùng mới nở cùng với trứng hư chìm xuống đáy. Bởi vì ấu trùng bị ánh sáng hấp dẫn nên chúng ta sử dụng một đèn pin chiếu vào khoảng giữa bồn ấp để tập trung chúng vào đấy rồi dùng ống siphon hút ra ngoài, hay trong các bồn ấp thương mại, người ta có thể xả van phía đáy bồn để lấy trứng hư ra rồi lại xả tiếp để lấy ấu trùng qua bồn chứa khác. Một cách nữa để thu hoạch artemia là dùng vợt (lỗ rất nhỏ) vớt bỏ hết vỏ trứng trên bề mặt. Sau đó dùng ống siphon nhỏ gắn với ống nhựa (đường kính khoảng 3 mm) để hút ấu trùng artemia ra và đem nuôi cá con.

Nguồn trứng artemia

Có thể mua trứng ở hầu hết các tiệm cá cảnh hay qua email. Trứng mua số lượng nhiều (hộp vài kg) thường rẻ hơn là mua từng lon nhỏ ở các tiệm cá cảnh và cũng thường được trữ tốt hơn.

Chăm sóc artemia

Hầu hết mọi người chỉ có nhu cầu ấp một số lượng nhỏ artemia. Một khi ấu trùng nở, chúng được nuôi 2-3 ngày trước khi thu hoạch và nuôi lứa mới. Một số người muốn nuôi lâu hơn và từ đó vài vấn đề nảy sinh. Trong bồn ấp nhỏ, nước bị dơ rất nhanh đặc biệt là khi nuôi thúc, cá ăn nhiều. Hơn nữa, thức ăn thừa bị vi khuẩn phân hủy làm cho chất lượng nước suy giảm, những chất độc như amonia và nitrite xuất hiện. Cố gắng đừng cho artemia ăn quá nhiều bằng cách quan sát số lượng thức ăn mỗi lần cho ăn và đợi cho đến khi nước trong trở lại trước khi cho thêm thức ăn.

Vì ấu trùng artemia tăng trưởng, rất khó tính toán số lượng thức ăn dẫn đến cho ăn quá nhiều làm nước dơ, đặc biệt là khi cho ăn loại thức ăn không phải tảo sống. Thay khoảng 50% nước mỗi tuần; thêm nữa, dùng ống hút làm sạch chất cặn bã lắng ở đáy bồn sau mỗi vài ngày có thể giải quyết vấn đề này. Nếu để nuôi lâu dài, bạn nên gắn thêm bộ lọc bằng bọt biển hay bộ lọc sinh học khác.

Các vấn đề gặp phải khi nuôi artemia

Có hai vấn đề tôi thường lập lại trong việc nuôi artemia đó là chậm lớn và chết hàng loạt. Artemia chậm lớn thường là do ảnh hưởng môi trường như nhiệt độ thấp, độ pH không thích hợp, nước quá mặn hoặc quá nhạt, không đủ thức ăn hay thức ăn kém chất lượng. Có hàng loạt nguyên nhân làm cho artemia chết hàng loạt. Nguyên nhân dễ phát hiện nhất là thiếu ôxy. Điều này có thể giải quyết bằng cách sục khí mạnh hơn và tạo dòng chuyển động trong hồ nuôi. Thứ hai, tình trạng sức khỏe của artemia có thể được quan sát thấy bằng cách quan sát cách chúng bơi. Những con khỏe mạnh phản ứng với ánh sáng và tập trung vào đó. Bơi chậm chạp và tản mác là dấu hiệu cho thấy đàn artemia ở tình trạng sức khỏe không tốt. Sức khỏe của artemia cũng có thể được quan sát dưới kính hiển vi. Artemia ăn uống đầy đủ sẽ có bụng căng và thải phân vón cục. Chúng cũng có vùng miệng và các vây bơi phụ sạch sẽ chứng tỏ sức khỏe tốt. Những con ăn uống kém sẽ có bụng xẹp và đi phân lỏng. Nếu vùng miệng và các vây bơi có dính thức ăn, điều này chứng tỏ chúng bỏ ăn. Một nguyên nhân làm artemia chết hàng loạt là do nhiễm khuẩn và các sinh vật đơn bào. Điều này có thể tránh được bằng cách tách vỏ trứng trước khi đem ấp.

Kết luận

Ấu trùng artemia là nguồn thúc ăn rất tiện lợi cho cá bột. Khả năng làm giàu artemia cho phép chúng được sử dụng như môi trường chuyển hóa những chất dinh dưỡng đặc biệt cho cá. Nuôi dưỡng và cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho ấu trùng cá là rào cản lớn nhất đối với những nhà ươm nuôi cá biển. Chỉ với một không gian hẹp, một ít hồ và dụng cụ cùng với những thông tin cần thiết là bất cứ ai cũng có thể ươm nuôi thức ăn tươi sống để có thể lai tạo cá cảnh biển tại nhà.

Phụ lục: Phương pháp tách vỏ trứng

Công đoạn ngâm nước

Trứng được ngâm trong nước muối (<100 mg/l) và sục khí ở 25 độ C.

Công đoạn tách vỏ

Vớt trứng bằng lưới có kích cỡ 125 µm, đem sàng rồi bỏ vào dung dịch tách hypochlorite. Dung dịch tách có thể được chuẩn bị trước bằng cách trộn dung dịch NaOCl (độ hoạt tính thường 11-13%) hay bột tách Ca(OCl)2 (độ hoạt tính thường 70%) theo tỷ lệ như sau:

* 0.5 g hypochlorite hoạt tính/1 g trứng (vỏ bịch hypochlorite có ghi chú rõ “hoạt tính” nếu không thì phải thử). Chi tiết như sau:

Làm lạnh dung dịch xuống còn 15-20 độ C (tức đem bồn lọc bỏ vào hồ nước đá lạnh). Cho trứng đã ngâm vào và sục khí mạnh từ 5-15 phút. Kiểm tra nhiệt độ thường xuyên vì phản ứng tỏa nhiệt: không để vượt quá 40 độ C (nếu cần có thể cho thêm nước đá vào dung dịch tách vỏ). Có thể dùng kính lúp hay kính hiển vi để kiểm tra kết quả của công đoạn tách vỏ.

Công đoạn rửa

Khi trứng có màu xám (dùng với dung dịch tách) hay vàng (dùng với bột tách) hay khi quan sát dưới kính hiển vi thấy trứng đã tách hết vỏ (sau 3-15 phút) thì có thể đem sàng bằng lưới 125 µm cho đến khi không còn mùi hypochlorite bốc lên. Điều quan trọng là không được để phôi thai trong dung dịch tách quá lâu vì phôi thai có thể bị ảnh hưởng.

Công đoạn làm sạch

Làm sạch mọi dấu vết của hypochlorite bằng cách ngâm chúng vào dung dịch 0.1% NHCl hay 0.1% Na2S2O3 và trộn lần nữa với nước. Dấu vết của hypochlorite được phát hiện bằng cách bỏ trứng đã tách vỏ vào bột thử i-od (gồm KI, H2SO4 và nước). Nếu chúng có màu xanh thì vẫn phải tiếp tục công đoạn này. Còn cách khác là sử dụng phương pháp thử DPD chlorine.

Công đoạn sử dụng

Phôi thai có thể đem trữ trong tủ lạnh (0-4 độ C) vài ngày trước khi đep ấp. Để trữ lâu hơn, phôi thai cần được làm mất nước bằng dung dịch muối đậm đặc (1 g phôi thai/10 ml nước/300 g NaCl). Thay dung dịch sau mỗi 24 giờ.


【#2】Người Lai Tạo Cá Betta Rồng Đầu Tiên Tại Việt Nam

Đến nhà anh Tô Minh để tận mắt chứng kiến những chú cá Betta tuyệt đẹp, những đàn cá con khỏe mạnh xinh xắn, và nhất là để thấy được cách anh chăm sóc tận tình tỷ mỷ đối với chúng, thì mới thấy được anh là người đam mê cá betta đến dường nào…

Và khi ra về, một phần nào đó tôi đã tự trả lời được câu hỏi của mình “Tại sao Anh lại là người đầu tiên cho lai tạo thành công cá Betta Rồng – một loại cá quý hiếm – mà không phải là một người nào khác? “

1/ Chào Anh. Xin Anh giới thiệu đôi nét về mình.

Chào các bạn, tôi tên là Tô Minh, 42 tuổi, hiện là huấn luyện viên thể thao bộ môn bóng bàn. Đang cư ngụ tại 195 Lý Tự Trọng quận 1 tpHCM.

2/ Được biết trước đây gia đình anh có mở cửa hàng kinh doanh bán cá cảnh, sao gia đình anh không tiếp tục việc kinh doanh này?

Trước đây vào thời bao cấp, để phụ giúp cho ba mẹ và tăng thêm thu nhập cho gia đình (bố tôi khi đó làm CBCNV, mẹ tôi mất sức lao động) nên 3 anh em chúng tôi đã mở cửa hàng kinh doanh cá cảnh. Sau này khi trưởng thành, mỗi anh em chúng tôi đều có công việc ổn định, và cuộc sống riêng nên chúng tôi đã không tiếp tục kinh doanh nữa.

3/ Phải chăng chính việc kinh doanh cá cảnh của gia đình đã giúp anh có rất nhiều kiến thức, kinh nghiệm trong việc chăm sóc cá cảnh?

Thông qua việc kinh doanh cá cảnh đã giúp tôi có được rất nhiều kinh nghiệm trong việc chăm sóc, nuôi nấng và phát triển con giống cá cảnh. Ngoài ra, việc kinh doanh này cũng giúp tôi hiểu biết nhiều về các cách xử lý môi trường sống của cá (nước, thức ăn…), giúp tôi biết được nhiều phương pháp điều trị các bệnh của cá cảnh.

“Lu bu” với đàn cá cảnh từ thời còn nhỏ, nên đến bây giờ dù không còn kinh doanh nhưng cá vẫn luôn là những người bạn thân thiết, và nuôi cá cảnh vẫn là niềm đam mê của tôi.

4/ Được biết anh đã từng nuôi nhiều loại cá khác nhau, từ những con cá La Hán dễ nuôi, đến những con cá Dĩa khó chăm sóc; từ những con “Bình dân” bảy màu đến những “Đại gia” Kim long quá bối. Vậy duyên số nào đưa anh đến “vùng trời” Betta?

Tôi đến với cá betta cũng có những lý do như các thành viên đam mê cá Betta khác, nhưng điều khiến tôi tâm đắc nhất là cá Betta luôn đặt tôi vào vị thế “sống cùng thử thách” và tìm cách giải quyết những thách thức đó.

– Thách thức sự kiên trì trong nuôi dưỡng, điều trị, lai tạo.

– Thách thức sự kiên nhẫn để tìm cách lai tạo thành công những cá betta có mầu sắc thuần chủng (vàng ánh kim, platinium, đen, đỏ…), những bầy cá rồng quý hiếm (vàng, đỏ, xanh), hay những cá thể lạ.

Những thách thức dường như là vô tận và không có điểm dừng…

5/ Chăm sóc cá Betta và các loại cá cảnh khác anh nhận thấy có gì khác biệt?

Mỗi loại cá cảnh đều mang những đặc thù sống riêng nên cách chăm sóc là không thể giống nhau, và đặc biệt cần đòi hỏi ở người nuôi nhiều điều kiện cũng khác nhau.

Với tôi điều kiện về thời gian là điều khó khăn nhất khi nuôi cá Betta. Bạn cứ tưởng tượng việc phải chăm sóc cả ngàn con cá betta đủ mọi lứa tuổi, ngày cho ăn 2 đến 3 lần, thay nước 3 ngày 1 lần sẽ như thế nào?

6/ Những đàn cá Betta của các thành viên khi gặp phải sự cố đưa đến cho anh điều trị đều mau chóng được hồi phục. Phải chăng anh có bí quyết gì, anh có thể chia sẻ cho mọi người bí quyết đó?

Tôi không dám gọi đó là những bí quyết vì thật tình tôi cũng chằng có bí quyết nào cả! Để điều trị cho những chú cá gặp “sự cố” thì tôi luôn đặc biệt quan tâm đến những vấn đề sau:

– Nước nuôi cá phải luôn là nước thật sạch, phải xử lý nước thật kỹ (clo, các nguồn gốc vi sinh gây bệnh…) trước khi nuôi cá.

– Cách ly hoàn toàn các cá thể bệnh.

– Theo dõi thường xuyên trạng thái của cá và liên tục thay nước.

– Định bệnh chính xác để tìm ra phương thuốc và cách điều trị thích hợp.

– Các dụng cụ để điều trị cho cá phải được tẩy trùng sau khi sử dụng.

Chính nhờ áp dụng các biện pháp trên nên cá của các bạn tôi gửi điều trị phần lớn thường phục hồi nhanh chóng. Tuy nhiên, cũng không thể đạt được 100%, dù đã rất cố gắng, đôi khi tôi cũng phải chịu những thiệt hại ngoài ý muốn và phải “nói lời từ biệt” với một vài chú cá thân yêu.

7/ Anh đã chế biến riêng một loại thức ăn để nuôi dưỡng cá betta, dùng thức ăn này cá phát triển ra sao? Xin anh cho biết thành phần nguyên liệu và hướng dẫn cách chế biến.

Đọc các tài liệu nước ngoài và qua thực tế trong quá trình nuôi cá, tôi đã chế biến môt loại thức ăn dinh dưỡng dành cho cá betta. Thức ăn nhằm cung cấp cho cá nhiều vitamin và khoáng chất cần thiết, giúp cá phát triển rất tốt. Tôi đã nhiều năm nuôi cá bằng loại thức ăn này và nhận thấy chúng rất phù hợp với việc nuôi Betta.

Các bạn có thể vào đây để biết thành phần nguyên liệu và cách chế biến loại thức ăn dinh dưỡng này..

8/ Theo anh vì sao cá Rồng Betta lại quý hiếm?

Hiện nay, các dòng betta cảnh hiện đại ở nước ta đều được liệt vào loại “quý hiếm” bởi vì phong trào nuôi cá betta cảnh mới phát triển mạnh gần đây, hầu hết cá đẹp và đạt chuẩn đều phải nhập từ nước ngoài với số lượng hạn chế. Cá betta rồng cũng không là ngoại lệ.

9/ Vẻ đẹp đặc trưng của cá Rồng Betta là ở bộ vảy. Trong các loài Betta cảnh chỉ có cá Rồng betta có bộ vảy được cấu tạo như thế. Anh có thể giải thích cho mọi người biết về bộ vảy này?

Vẻ đẹp của cá betta rồng chính là ở bộ vảy và sự kết hợp màu sắc của chúng. Một mặt, cá betta rồng đương nhiên phải có những đặc điểm riêng biệt so với những dòng cá khác, mặt khác những đặc điểm này không tự nhiên xuất hiện mà chỉ là sự kết hợp từ những dòng cá có sẵn trước đó.

Nếu chiếu theo cách phân loại của IBC thì cá betta rồng là cá nhị sắc với thân màu trắng đục và vây màu đỏ. Dựa trên màu sắc và hoa văn, chúng ta có thể đoán rằng cá betta rồng bao gồm những gen sau đây:

– Gen trắng đục (opaque): thể hiện qua lớp màu trắng thật dày trên thân và đôi khi leo lên cả mắt.

– Gen đỏ hoặc cambodian: thể hiện ở bộ vây màu đỏ.

– Gen hoang dã: thể hiện ở các tia hình nan quạt hiện diện trên đuôi của cá betta rồng.

Như vậy, một con betta rồng (hay rồng đỏ) là sự kết hợp của cá opaque, cá đỏ và cá hoang dã. Tuy nhiên quá trình lai tạo cụ thể ra sao không ai biết rõ và dòng cá này cũng mới xuất hiện vài năm gần đây thôi. Hiện tại, cá rồng chỉ xuất hiện dưới dạng plakat cảnh truyền thống, có lẽ người ta đang chú trọng ổn định về màu sắc của dòng này nên chưa phát triển sang các dạng đuôi khác. Việc tạo ra loại cá hai màu hoàn hảo tức màu sắc thân, vây và các tia đuôi hình nan quạt không bị lem là rất khó khăn.

Một vài loại cá rồng khác mà mình biết là:

– Rồng vàng: opaque + cá vàng + cá hoang dã

– Rồng xanh: opaque/xanh thép + đỏ + cá hoang dã (mình đang có dòng này).

Lưu ý: những dòng cá như dòng Armadillo của Victoria cũng có thể được nhận lầm là cá betta rồng. Thực ra, chúng chỉ là cá ánh kim toàn thân tức “full mask” mà thôi, tuy lớp ánh kim rất dày nhưng không dày bằng lớp “opaque” ở cá betta rồng (gen opaque còn khiến màu ánh kim lan lên tận mắt).

10/ Vì sao Anh chọn lai tạo cá Rồng betta? Loại Rồng Betta này có những đặc điểm sinh sản gì khác các loại Beta thường ,khó khăn và thuận lợi khi anh lai tạo loại cá này?

Tôi chọn lai tạo cá Rồng betta vì 2 lý do :

– Thứ nhất: Tôi lai tạo vì rất thích vẻ đẹp đặc trưng của nó,vẻ đẹp không thể nhầm lẫn với các loại betta khác. Tôi tin chắc rằng nếu bạn nhìn thấy, bạn sẽ bị chúng “hớp hồn” ngay từ cái nhìn đầu tiên.

– Thứ hai:Tôi lai tạo vì hiện giờ rất ít người chơi Betta sở hữu, sinh sản thành công được loại cá này. Tôi muốn loài cá này sẽ mau chóng được phổ biến rộng rãi đến mọi người yêu thích Betta.

Theo sự quan sát khi nuôi cá Rồng Betta tôi nhận thấy chúng có những đặc điểm sau:

– Chúng ăn rất ít, và rất dễ sinh bệnh nhất là ở những con mái.

– Ở những con Rồng “đẹp” thường thì vẩy Rồng bao phủ lên một phần của mắt cá làm cho phạm vi thị lực bị thu hẹp (điều này cũng xảy ra tương tự ở: Gold, Platinium, Royal Blue, Green, full mask… ) điều làm cho việc chăm sóc trứng và cá con của cá cha gặp nhiều khó khăn hơn.

Vì thế, theo tôi nên cho Rồng Betta sinh sản sớm, không nên để chúng ” già” quá.

11/ Tình hình hiện nay của bầy cá Rồng con này? Anh kỳ vọng gì ở chúng?

Bầy cá Rồng xanh Betta con hiện nay đã được 1 tháng tuổi, sức khỏe ổn định, nhưng so với những loại khác thì chúng thật sự chậm “lớn ” (mặc dù chúng ăn rất nhiều).

Dân gian thường nói: “Chó giống cha, (cá) gà giống mẹ”, tôi có hai con trống tương đối khá đẹp và một con mái không được đẹp lắm nên đành phải ghép đôi một con trống đẹp với nó để sinh sản. Hy vọng số lượng cá con nhiều (khoảng 600 con) sẽ chọn ra được một ít con trống, mái đẹp như cha của chúng.

12/ Loại cá Rồng mà anh lại tạo thành công là cá Rồng Xanh Betta, vậy còn loại rồng Đỏ và Vàng anh có dự định lai tạo để trở thành “chuyên gia” lai tạo cá Rồng Betta không? Hay anh có dự định sẽ nâng cao “tay nghề” mình hơn nữa bằng cách lai tạo hàng loạt cá Betta dạng “hàng độc hiếm”?

Tôi cũng đang có 1 cặp Rồng đỏ và 1 cặp Rồng Betta marble (của một người bạn gởi), sau khi nuôi cho đàn cá con Rồng hiện có trưởng thành và ” xuất xưởng ” xong. Tôi mới dám nghĩ đến chuyện… để nâng cao “tay nghề”, thà chậm mà chắc còn hơn…

13/ Tôi thấy anh có cuốn sổ mang tên Nhật ký cá Betta. Anh ghi chép gì trong đấy?

Nếu có điều kiện hãy làm giống như tôi, các bạn sẽ thấy nó thật sự có ích trên chặng đường “chinh phục vùng trời Betta.”

14/ Tôi cũng thấy anh có rất nhiều dụng cụ, thuốc điều trị, các vật dụng tự chế để phục vụ cho việc nuôi cá Betta. Xin anh cho mọi người nuôi Betta biết cần có những dụng cụ, thuốc men… tối thiểu nào, công dụng của chúng dùng vào việc gì và lúc nào?

Tôi sẽ trả lời câu hỏi này bằng những bài và những dẫn chứng thật cụ thể trên diễn đàn trong một ngày không xa. Mời các bạn đón xem.

15/ Anh đã cho lai tạo thành công nhiều bầy cá Betta. Đến nay thì những thành công nào được anh xem là “rực rỡ” nhất và những “thất bại” nào được xem là đau thương nhất?

Tôi mới quay lại với Betta một thời gian không lâu nên chưa có cái gì gọi là “rực rỡ” và “đau thương” nhất! Nhưng trên (con đường) dài “vô tận” mang tên BETTA này, chắc chắn tôi sẽ được nếm đủ mùi vị: “Chua, Cay, Mặn, Ngọt.”

16/ Là người đã từng kinh doanh cá kiểng, anh thấy có thể kiếm được lợi nhuận từ việc kinh doanh cá Betta không? Nếu lai tạo cá đẹp được nhiều anh có ý định mở lại cửa hàng cá kiểng để kinh doanh không?

Phong trào chơi cá Betta mới “sống” lại trong 1 thời gian ngắn gần đây nên gặp rất nhiều khó khăn gian nan thử thách chủ quan cũng như khách quan. Hy vọng rằng hội Betta của diễn đàn cá cảnh dần dần sẽ lớn mạnh, phổ cập được thú chơi cá Betta rộng rãi đến người “yêu” cá thì việc thu được lợi nhuận từ việc kinh doanh cá Betta sẽ là khả thi.

Lợi nhuận có được chắc chắn sẽ không cao, mà chủ yếu giúp những nhà lai tạo thu lại một phần vốn (cá giống, thức ăn, dụng cụ nuôi… ) và công sức đã bỏ ra… Điều “cốt lõi” nhất là việc kinh doanh “nhỏ” này sẽ khích lệ động viên những nhà lai tạo dấn thân sâu hơn. Nếu lai tạo được cá đẹp tôi cũng sẽ hành động như những lời tôi vừa nêu ở trên.

a/ Con người

– Bạn phải thật sự bình tâm và kiên nhẫn, điều này sẽ giúp bạn xử lý được những tình huống bất đắc dĩ xảy ra trong quá trình nuôi cũng như lai tạo Betta.

– Đừng ngại ngùng hỏi hay đề nghị được giúp đỡ, chia sẻ kinh nghiệm… ở những người cùng sở thích, người chơi lâu hơn, có kinh nghiệm… Sẽ không ai đánh giá thấp hay coi thường bạn khi nhận được những câu hỏi hay đề nghị đó đâu!!! mà ngược lại bạn sẽ thu thập đuợc khá nhiều dữ liệu phản hồi (những dữ liệu này sẽ giúp bạn đi “đường tắt”, “xài” được ngay những kinh nghiệm mà khỏi phải mất thời gian tìm kiếm mày mò…)

– Không có một kinh nghiệm nào được gọi là điển hình tuyệt đối mà kinh nghiệm phải được sàng lọc để phù hợp với điều kiện riêng của từng người

Xin chân thành cám ơn anh Tô Minh về cuộc trò chuyện này.

Nguồn : Diemdancacanh


【#3】Tổng Hợp, Phân Loại Cá Betta Rồng, Cá Sim Cảnh

Tổng hợp, Phân loại cá betta rồng, cá sim cảnh, Betta Dragon (Cá mang vảy rồng) được phát triển lai tạo rất đa dạng về hình dạng và màu sắc, một số màu sắc của dòng Betta Dragon này mà chúng ta hay gặp

+ Beta Rồng đỏ (Red Dragon)

Thân cá có các lớp sắc tố màu trắng đục phủ rất dày bao phủ kín thân và nắp mang có khi lên trên đầu (full), một số có ánh kim làm nổi bật nền trắng của cá. Các vây lưng, vây đuôi, vây hậu môn (có khi lên tới vây bơi) đều có màu đỏ với các màng chia đuôi màu trắng ánh kim. 1 con rồng đỏ đẹp khi các vây của cá mang 1 màu đều như nhau và tách biệt rõ với màu thân cá.

+ Rồng đỏ viền bướm (Red Dragon Butterfly)

+ Rồng cam (Orange Dragon)

Cũng giống như rồng đỏ, cá rồng cam cũng có các lớp trắng phủ trên thân và vây bơi màu cam, tuy nhiên do đây là giống rất mới, các nhà lai tạo đang trong quá trình làm ổn định màu cam nên 1 con rồng cam xuất sắc hiện vẫn còn là mơ ước.

+ Beta Rồng vàng (Gold Dragon)

Rồng vàng căn bản được tạo thành 1 cách nhanh chóng nhờ gen nr (gen mất đỏ) xuất hiện đồng hợp lặn trong 1 con cá betta rồng đỏ, người ta có thể tiến hành lai tạo betta rồng đỏ bằng nhiều cách từ những chú betta rồng có sẵn. Cá betta rồng vàng có màu thân vàng và lớp vảy trắng đục hay trắng ánh kim rất đẹp, riêng betta rồng vàng và rồng trắng có bộ vây cùng màu sắc với thân, ở đây cá betta rồng vàng có vây lưng ,đuôi,vây bụng,ngực và vây hậu môn màu vàng

+ Rồng màu thân dứa (Pineapple Dragon)

Đây cũng là 1 dạng của Betta rồng vàng nhưng thân vẫn còn nhiễm đen như mắc dứa, nếu lớp vẩy cá dày lên (lớp trắng) thì chúng ta rất khó phân biệt với rồng vàng tuy nhiên đặc điểm nhận dạng dễ dàng nhất vẫn là thân sậm đen ở bụng.

+ Rồng trắng (White Dragon)

Cách sắp xếp sắc tố như rồng đỏ và rồng vàng nhưng khác nhau bởi màu sắc của các vây và kỳ. Các vây lưng, vây đuôi và vây hậu môn mang màu trắng.

+ Rồng đen (Black Dragon)

Một giống rồng đang rất “hot” rất được nhiều người săn tìm bởi nét đẹp “lạnh lùng” nhưng sang trọng của nó. Thân cá có các lớp sắc tố màu trắng đục phủ rất dày bao phủ kín thân và nắp mang có khi lên trên đầu (full), và trên lớp trắng đó là 1 lớp ánh kim dày màu tối, đó là nền của màu Black Copper.Điểm khác biệt lớn của rồng đen hiện tại là các vây lưng, vây đuôi, vây hậu môn đều có màu đen với các màng chia đuôi mang màu sắc của thân cá. 1 con rồng đen đẹp khi các vây của cá mang 1 màu đen đều như nhau và tách biệt rõ với màu thân cá.

+ Cá Beta Rồng xanh (Green hay Blue Dragon)

Cách phân bố màu sắc cũng như rồng đỏ và các loại khác tuy nhiên trên thân cá phía trên lớp trắng đục rất dày lại phủ lên thêm 1 lớp ánh kim : màu green, turquoise, steel, royal blue… làm cho rồng xanh thêm nét quyến rũ.Các tia vây màu đỏ nằm xen lẫn các màng vâyi màu xanh ngọc tạo nên sự hài hòa và tăng thêm nét độc đáo của nó. Một số con có lớp ánh kim dày phủ lên cả mắt nhìn rất đẹp.

+ Beta Rồng xanh dương viền đen (Black Lace Dragon)

Đây là một trong những chú cá tham gia trong quá trình tạo ra rồng đen, Rồng Black lace có thân màu Blue nằm trên lớp trắng đục dưới vảy và nền đen căn bản của dòng Black Lace, các vây cá viền đen đậm xung quanh các tia vây màu blue

+ Rồng ánh đồng (Copper Dragon)

Copper Dragon có sự phân bố màu sắc như Black Dragon nhưng thay vào đó các sắc tố đen ở vây và thân sẽ mang màu đỏ sậm.

+ Rồng ánh đồng hơi mù tạc (Copper Gas Dragon)

Một cặp gen nr đã làm thay đổi 1 chú Copper Dragon thành Copper Gas Dragon, thay vì màu đỏ của vây với các tia vây màu copper thì chú cá này mang màu vàng của màng vây và tia vây mang màu copper

+ Rồng hơi mù tạc (Mustard Gas Dragon)

Gen Mustard Gas tái tổ hợp lặn trong cơ thể 1 con cá Betta rồng làm cho nó có màu Mustard Gas và mang vảy rồng. Lớp sắc tố màu Blue (hay Green) phủ trên lớp trắng dày trên thân và các màng vây màu vàng làm cho nó có sự tương phản rõ rệt.

Nguồn betta.ketviet


【#4】Cách Lai Tạo Cá Betta ; Cách Ép Đẻ Cá Betta ; Cách Nhân Giống Cá Betta Cơ Bản

Joep van Esch

Trong bài viết này, tôi sẽ gắng cung cấp cho các bạn nhiều thông tin về vấn đề lai tạo cá betta. Nên nhớ là những gì mô tả ở đây là cách lai tạo của riêng tôi. Còn rất nhiều cách khác để lai tạo thành công loài cá xinh đẹp này, mỗi nhà lai tạo đều phát triển cách lai tạo riêng phù hợp với điều kiện của mình.

Trước khi bàn sâu về vấn đề lai tạo, tôi xin đưa ra một số lưu ý quan trọng để nếu bạn quyết định lai tạo cá betta, bạn có thể chăm sóc chúng theo cách tốt nhất có thể:

– Mỗi lứa cá có thể lên đến 300 con!

– Cá đực 2 tháng tuổi cần được tách đàn và nuôi riêng để phát triển tốt. Bạn cần chuẩn bị cho điều này!

– Cá con cần được nuôi dưỡng bằng những loại thức ăn tốt nhất.

– Chăm sóc và nuôi dưỡng bầy cá con cho đến khi chúng trưởng thành (cho ăn, thay nước…) cần rất nhiều sự kiên nhẫn và thời gian.

– Đảm bảo rằng bạn có đủ khả năng tài chính để đeo đuổi thú chơi này.

Chuẩn bị hồ

Để chuẩn bị hồ đẻ, bạn cần những thứ sau đây:

– Hồ kiếng (tối thiểu 10-12 lít)

– Đầu nhiệt (25 Watt)

– Lọ khử chlor (hiệu Aquasafe hay Easy Life)

– Rong

– Ống nhựa hay thủy tinh (để nhốt cách ly cá cái)

– Miếng mút xốp/ lá bàng/ ly nhựa cắt đôi (làm giá thể để cá đực nhả bọt)

– Mảnh chậu gốm trồng cây

Tôi thường lai tạo cá trong các hồ có kích thước 40 x 25 x 25 cm (25 lít) đáy để trống. Mực nước cao 10-15 cm, nhiệt độ được duy trì ở 27-30 độ C nhờ một đầu nhiệt 25 W.

Hồ được thả rong. Tôi thích sử dụng rong đuôi chồn ( Ceratophyllum demersum). Rong dùng để hỗ trợ tổ bọt, nơi trú ẩn cho cá mái, làm trùng cỏ sinh sôi (cá bột ăn trùng cỏ khi mới nở). Hơn nữa, rong còn là nơi trú ẩn cho cá bột khi chúng bắt đầu bơi được. Tôi còn sử dụng mảnh chậu trồng cây làm nơi trú ẩn cho cá cái trong quá trình sinh sản.

Đây là hồ ép cá của tôi:

1. Miếng mút xốp

2. Mảnh lá bàng khô

3. Ống nhựa

4. Mảnh chậu trồng cây

5. Rong

Để tổ bọt có chỗ bám vững chắc hơn, người ta có thể thả vào một miếng mút xốp nhỏ, một ly nhựa cắt đôi, lá bàng khô… Tôi thường cung cấp nhiều lựa chọn cho cá đực bằng cách thả một miếng mút xốp ở góc này và một mảnh lá bàng ở góc đối diện.

Lựa chọn cá bố mẹ

Khi lựa chọn cặp cá bố mẹ, chúng ta cần cân nhắc một số điểm sau đây:

Bạn muốn bầy cá con trông như thế nào? Bạn lai tạo dựa trên màu sắc, vây hoặc cả hai hay chỉ để cho vui mà thôi? Một khi nhà lai tạo có mục đích cụ thể, họ cần phải tìm kiếm cá bố mẹ có các đặc điểm cần thiết. Cá giống thường không có đủ tất cả các đặc điểm mà bạn mong muốn nhưng tôi xem đây như là công việc lắp ghép thú vị khi mà bạn lai tạo để kết hợp các đặc điểm lại với nhau.

Tuổi của cá: có một số ghi nhận rằng cá Betta sinh sản ở 3 tháng tuổi nhưng tôi thường đợi chúng đạt tối thiểu 4 tháng tuổi mới cho sinh sản.

Trước khi cho sinh sản, bạn phải đảm bảo cá của mình ở điều kiện tốt nhất. Để chuẩn bị, cá của bạn cần được nuôi 1-2 tuần bằng thức có chất lượng cao hay thức ăn tươi sống (tốt nhất là trùng đỏ). Khi bạn cho cá kè nhau mỗi ngày thì chúng sẽ trở nên quen thuộc với nhau và điều này cũng kích thích trứng của cá cái mau chín.

Làm thế nào để phát hiện cá đã sẵn sàng để sinh sản?

Cá cái: mạnh khỏe, linh hoạt, bụng căn trứng, trên thân xuất hiện những sọc đứng.

Chú ý: cá cái nền nhạt thường không có sọc đứng!

Cá đực: mạnh khỏe, linh hoạt, giương vây, màu sắc rực rỡ, nhả bọt.

Cho cá bắt cặp

Sau khi chọn được cặp cá giống và cả hai ở tình trong tình trạng sức khỏe tốt, chúng ta thả cặp cá vào hồ ép đẻ.

Tôi thường thả cá cái vào hồ trước để nó quen với môi trường và khám phá những nơi trú ẩn. Hai ngày sau tôi cách ly cá cái (bằng chai nhựa cắt hai đầu) và thả cá đực vào. Cả hai sẽ bắt đầu phùng mang, giương vi lẫn nhau. Sự xuất hiện sọc dọc trên thân cá cái là dấu hiệu cho thấy nó chuẩn bị sinh sản (nên nhớ cá cái nền nhạt sẽ không có các sọc này). Duy trì hiện trạng 1-2 ngày để cá đực có thời gian xây tổ bọt. Cá cái bị kích thích tạo ra nhiều trứng.

Cặp Betta đang vờn nhau.

Tôi chỉ cho cá ăn khi cá cái vẫn còn được cách ly. Cá cái luôn ăn trong khi tôi thấy cá đực thường ngưng ăn trong quá trình nhả bọt.

Ổ bọt nhìn từ bên trên.

Ổ bọt nhìn từ bên dưới.

Tôi thường thả cá cái ra trước khi tắt đèn khoảng 5-10 phút. Tôi luôn mong mốn cặp cá của mình phối hợp với nhau ngay sau khi thả cá cái. Nếu cá cái không phản ứng và bỏ chạy thì nên vớt nó ra và chờ vài ngày trước khi thử lại.

Sau khi cá cái được thả ra, cả hai sẽ vờn nhau khắp hồ. Nếu cá cái bị cắn vài miếng thì cũng là điều rất bình thường. Sau một lúc, cá cái sẽ quan sát cá đực nhả bọt ở một khoảng cách an toàn. Khi cá đực đã sẵn sàng, nó sẽ nằm ngay dưới tổ bọt và hiếm khi đuổi theo cá cái. Nó cố gắng dẫn dụ cá cái tiến đến ổ bọt một cách ít hung dữ hơn bằng động tác giương vây.

Khi cá cái sẵn sàng đẻ, nó sẽ tiến đến tổ bọt với cái đầu chúc xuống. Chúng bắt đầu thúc vào hông nhau. Ngay sau đó cá đực bắt đầu cuộn lấy cá cái. Đôi khi phải mất thời gian trước khi cá đực làm được như vậy, nhất là đối với những con thiếu kinh nghiệm.

Khi cả hai cuốn lấy nhau, trứng bị ép ra từ bụng cá cái. Ngay lập tức cá đực phóng tinh để thụ tinh cho trứng. Trứng rớt xuống và cả hai cá đực lẫn cá cái bơi xuống ngậm lấy trứng và nhả lên tổ bọt. Mỗi lần đẻ thường diễn ra từ 1 giờ rưỡi đến 3 giờ.

Khi cá đực cảm thấy đã đủ nó sẽ đuổi cá cái đi và cá cái sẽ trốn vào đám rong. Đây là lúc để vớt cá cái ra và đem đi dưỡng cho lần sinh sản kế tiếp. Cá đực chăm sóc tổ một mình. Lúc này tôi thường nhỏ vài giọt Liquifry no.1 để làm lượng trùng cỏ trong hồ sinh sôi. Từ bây giờ, cần để đèn 24/24 cho đến khi cá con có thể bơi và cá đực được bắt ra.

Khi bạn theo dõi kỹ lưỡng quá trình sinh sản, bạn hiếm khi thấy cá cái bị thương nặng. Trong hầu hết trường hợp, cá cái rời hồ đẻ ở tình trạng sức khỏe tốt. Nếu cá cái bị thương nặng, chế độ chăm sóc tốt sẽ giúp nó phục hồi sau vài tuần.

Trứng nằm trên ổ bọt.

Nuôi dưỡng cá con

Ở nhiệt độ từ 28-30 độ C, trứng được thụ tinh trong tổ bọt sẽ bắt đầu nở sau từ 25-30 giờ. Sau khi nở, sự hiện diện của cá con có thể dễ dàng được nhận thấy bằng cách quan sát bên dưới tổ bọt. Một nhúm những cái đuôi nhỏ lòi ra từ ổ bọt bởi vì cá con vẫn mang noãn hoàng và các vây bơi còn chưa phát triển đầy đủ.

Cá con một ngày tuổi treo mình trên ổ bọt.

Mỗi khi có con nào rơi khỏi tổ, cá đực nhẹ nhàng ngậm nó vào miệng và nhả lại lên tổ bọt. Đây có vẻ như là một công việc không có hồi kết…

Cá đực đang chăm sóc cá con.

Sau khoảng hai ngày túi noãn hoàng ở cá con được tiêu thụ hết và cá con bắt đầu bơi trên mặt nước. Cá đực cố hết sức đem cá con trở lại tổ. Lúc này, cá đực có thể được bắt ra để dưỡng sức cho lần sinh sản kế tiếp. Bầy cá con có thể tự kiếm ăn vì trong nước đã có sẵn trùng cỏ. Một ngày sau khi cá con có thể bơi lội tự do, tôi bắt đầu cho chúng ăn ấu trùng artemia 2-3 lần/ngày. Sau khoảng một tuần, tôi cẩn thận hút chất cặn trong hồ ép bằng ống hút đầu cột vải thưa để tránh hút phải cá con. Nước sạch châm vào hồ phải có cùng nhiệt độ.

Cá bột bắt đầu tự bơi được.

Cá 2 tuần tuổi.

Cá 2 tuần rưỡi tuổi.

Sau khoảng từ 3-4 tuần tuổi, bên cạnh artemia tôi bắt đầu cho cá ăn trùn chỉ. Thay từ 10-15% nước hồ sau mỗi hai ngày. Từ 4-6 tuần tuổi, cá bắt đầu lên màu (với những màu nhạt như màu vàng thì phải đợi lâu hơn).

Cá 3 tuần rưỡi tuổi.

Cá 5 tuần tuổi.

Ở 6-8 tuần tuổi, bên cạnh trùn chỉ, tôi bắt đầu cho cá ăn trùng đỏ tươi và đông lạnh. Lượng nước mỗi lần thay tăng lên một chút, từ 20-30% mỗi hai ngày. Ở độ tuổi này chúng ta có thể thấy những con đực đầu tiên bắt đầu xuất hiện trong bầy. Chúng thường có vây lớn hơn, gây gổ với những con cá đực khác và phùng mang. Lúc này tôi thường bắt chúng ra nuôi riêng.

Cá HMPK xanh metallic 7 tuần tuổi.

Cá HMPK xanh dương mask 9 tuần tuổi.

Cá HMPK xanh thép metallic 11 tuần tuổi.


【#5】Tiêu Chuẩn Cá Betta Plakat Đẹp

Đề xuất mới về tiêu chuẩn plakat

Tác giả Joep Van Esch – Nguồn http://www.bettas4all.nl & Flare! 4/2008

Giới thiệu

Cá betta đuôi ngắn ngày càng phổ biến hơn trong thế giới betta bởi vì dáng vẻ gọn gàng, khỏe mạnh của chúng. Chúng thường có lợi thế hơn so với betta đuôi dài ở khả năng mang bộ vây cả đời và ít bị bệnh thối vây. Cá betta đuôi ngắn, thường gọi là plakat có quan hệ gần với betta hoang dã Betta splendens. Qua nhiều thế hệ, những nhà lai tạo Thái Lan lai tạo loại cá hoang với mục đích phát triển khả năng và cách thức chiến đấu, độ bền, kích thước và màu sắc. Cách lai tuyển chọn này tạo ra các dạng màu sắc và đuôi mà chúng ta biết ngày nay.

Trong nhiều năm trời, plakat truyền thống (bất đối xứng) là thể loại duy nhất trong các triển lãm về cá betta nhưng rồi cơn sốt cá halfmoon đã kéo theo sự phát triển của dạng cá đuôi ngắn. Việc lai xa cá plakat truyền thống với halfmoon đuôi dài tạo ra cá halfmoon plakat. Hình dạng bên ngoài của chúng là bất đối xứng và bao gồm đặc điểm của cả hai dòng plakat truyền thống (bất đối xứng) và halfmoon. Bên cạnh sự phân nhánh của tia đuôi, việc lai xa với cá halfmoon cũng làm gia tăng phân nhánh ở vây hậu môn và vây lưng do đó ảnh hưởng đến hình dạng và kích thước của chúng. Cả hai loại plakat đều là dạng bất đối xứng không chỉ bởi vì các tia phân nhánh ở viền (phần rìa) của đuôi mà còn bởi chiều dài và hình dạng của vây hậu môn và vây lưng. Vào năm 2005, IBC chính thức phân biệt plakat truyền thống (bất đối xứng) và plakat cảnh bất đối xứng bằng cách tạo ra một tiêu chuẩn riêng cho hai thể loại này.

Khi lai với cá halfmoon đuôi dài, mục đích chính là tạo ra cá có hình dạng đối xứng. Sự ưa chuộng ngày càng gia tăng đối với plakat cảnh bất đối xứng dẫn đến sự hình thành của một loại plakat khác, plakat cảnh đối xứng. Đây là loại cá đuôi ngắn tương đồng với halfmoon đuôi dài và thường được gọi là “shortmoon” (tiểu bán nguyệt). Vào năm 2007, thể loại này được IBC chính thức công nhận là thể loại plakat thứ ba.

Tiêu chuẩn hình dạng

Plakat truyền thống (bất đối xứng):

* Hình dạng tổng thể: hình dạng bất đối xứng chủ yếu gây ra bởi kích thước và hình dạng của vây hậu môn tuy nhiên độ rộng, độ dài và hình dạng của vây bụng và vây lưng cũng đóng một vai trò quan trọng.

* Thân: plakat truyền thống (bất đối xứng) có thân hình thuôn dài nhất trong số ba thể loại plakat. Thân không nên quá to hay quá nhỏ so với bộ vây. Lưng nên trơn tru, không lồi lõm. Phần thân sau gần như đối xứng (giống như hình phản chiếu qua đường trung tâm) với gốc đuôi mạnh mẽ. Vảy phải thật đều.

* Vây lưng: phải tròn trịa hay hơi nhọn về phía sau. Gốc vây lưng bằng khoảng 1/3 kích thước vây hậu môn. Phần chóp của vây lưng chồng lên phần trên của đuôi. Những tia đầu tiên của vây lưng không nên quá ngắn. Vây lưng không được chồng lên thân.

* Đuôi: nên xòe 180 độ với cạnh đuôi tròn. Đuôi hình tròn hay chóp át bích. Trường hợp đuôi hình át bích, phần chóp nên nằm ở chính giữa đuôi. Chiều dài của tia vây nằm chính giữa đuôi nên bằng một nửa kích thước vây hậu môn (trường hợp đuôi át bích có thể dài hơn một chút). Đuôi xòe rộng nhờ sự phát triển của màng vây giữa các tia vây. Đuôi lý tưởng nên phân nhánh sơ cấp (2 nhánh).

* Vây hậu môn: có dạng hình thang với phần trước ngắn hơn so với phần sau (chóp). Phần trước hơi tròn trong khi phần sau phải nhọn. Tia dài nhất của vây hậu môn nên gấp đôi cạnh đuôi (~ 2/3 kích thước vây hậu môn). Khi giương lên, phần vây phía trước nên hướng ra trước một chút và phần phía sau hơi chồng lên phần dưới của đuôi.

* Vây bụng: hình dạng tương tự hai thanh kiếm với mặt lưỡi hướng về phía sau. Vây bụng dài và mảnh, đều và không bắt chéo nhau. Chiều dài của vây bụng nên từ 2/3 đến 3/4 kích thước của vây hậu môn.

* Vây ngực: như những loại betta cảnh khác.

Plakat cảnh bất đối xứng:

* Hình dạng tổng thể: hình dạng bất đối xứng chủ yếu gây ra bởi kích thước và hình dạng của vây hậu môn tuy nhiên độ rộng, độ dài và hình dạng của vây bụng và vây lưng cũng đóng một vai trò quan trọng.

* Thân: plakat cảnh bất đối xứng có thân hình tròn trĩnh hơn plakat truyền thống (bất đối xứng). Thân không nên quá to hay quá nhỏ so với bộ vây. Lưng nên trơn tru, không lồi lõm. Phần thân sau gần như đối xứng (giống như hình phản chiếu qua đường trung tâm) với gốc đuôi mạnh mẽ. Vảy phải thật đều.

* Vây lưng: phải có dạng bán nguyệt xòe ra như chiếc quạt. Gốc vây lưng bằng khoảng 1/2 kích thước vây hậu môn. Trường hợp lý tưởng, vây lưng phải hơi chồng lên phần trên của đuôi. Những tia vây đầu tiên (gần phía đầu) phải có kích thước tương đương với các tia khác và hướng về phía trước. Cạnh phía trước có thể sắc hoặc hơi tròn. Vây xòe rộng nhờ sự gia tăng phân nhánh của các tia vây và có thể nhờ cả ở số lượng tia vây. Vây lưng không được chồng lên thân.

* Vây hậu môn: có dạng hình thang với phần trước ngắn hơn phần sau. Vây hơi lài từ trước ra sau và không có chóp nhọn. Tia dài nhất của vây hậu môn nên gấp đôi cạnh đuôi. Khi giương lên, phần vây phía trước nên hướng ra trước một chút và phần phía sau hơi chồng lên phần dưới của đuôi.

* Vây bụng: hình dạng tương tự hai thanh kiếm với mặt lưỡi hướng về phía sau. Vây bụng mập mạp, đều và không bắt chéo nhau. Chiều dài của vây bụng nên bằng tia dài nhất của vây hậu môn.

* Vây ngực: như những loại betta cảnh khác.

Plakat cảnh đối xứng:

* Hình dạng tổng thể: hình dạng đối xứng chủ yếu gây ra bởi kích thước và hình dạng của vây hậu môn tuy nhiên độ rộng, độ dài và hình dạng của vây bụng và vây lưng cũng đóng một vai trò quan trọng.

* Thân: plakat cảnh đối xứng có thân hình mạnh mẽ và dày hơn plakat cảnh bất đối xứng. Thân không nên quá to hay quá nhỏ so với bộ vây. Lưng nên trơn tru, không lồi lõm. Phần thân sau gần như đối xứng (giống như hình phản chiếu qua đường trung tâm) với gốc đuôi mạnh mẽ. Vảy phải thật đều.

* Vây lưng: phải có dạng vuông vức nhờ việc gia tăng số lượng tia vây và sự phân nhánh của tia vây. Gốc vây lưng bằng khoảng 3/4 kích thước vây hậu môn. Điều quan trọng là kích thước và hình dạng của cả hai không được phá vỡ hình dạng tổng thể. Trường hợp lý tưởng, vây lưng phải hơi chồng lên phần trên của đuôi. Những tia vây đầu tiên (gần phía đầu) phải có kích thước tương đương với các tia khác và hướng về phía trước. Cạnh phía trước nên sắc. Vây lưng không được chồng lên thân.

* Vây hậu môn: có dạng vuông vức song song với thân. Chiều dài các tia vây xấp xỉ với cạnh đuôi và chiều cao của vây lưng để duy trì hình dạng đối xứng. Khi giương lên, phần vây phía trước nên hướng ra trước một chút và phần phía sau hơi chồng lên đuôi.

* Vây bụng: hình dạng tương tự hai thanh kiếm với mặt lưỡi hướng về phía sau. Vây bụng mập mạp, đều, không bắt chéo nhau và cân xứng với những vây khác để duy trì hình dạng đối xứng. Chiều dài tối đa của vây bụng nên bằng 1/3 kích thước vây hậu môn.

* Vây ngực: như những loại betta cảnh khác.

Phần phụ lục

Phần I

Tiêu chuẩn về plakat rất độc đáo so với những tiêu chuẩn khác vì cả ba loại cá đuôi ngắn này đều được công nhận là những thể loại riêng biệt. Trong trường hợp lý tưởng, như mô tả trong từng tiêu chuẩn, cả ba thể loại này rất dễ phân biệt nhưng trên thực tế mọi người thường hay nhầm lẫn. Bởi vì từ thể loại này phát triển thành thể loại kia qua nhiều năm trời lai tuyển chọn cho nên cũng có những loại “trung gian” ra đời. Trong các cuộc triển lãm, đôi khi rất khó khăn để xác định cá thuộc về thể loại nào. Trường hợp đó cá sẽ được xếp vào thể loại mà nó có ít lỗi nhất. Cần hết sức lưu ý rằng những con cá như vậy chưa phải là cá chất lượng hàng đầu nhưng thường là chất liệu tốt để lai tạo với mục đích tạo ra dòng cá chất lượng hơn.

Phần II

Với mục đích lai tạo và phát triển dạng đuôi halfmoon hoàn hảo, các nhà lai tạo cá betta tuyển chọn cá của mình dựa trên hàng loạt đặc điểm chẳng hạn như cạnh đuôi/tia vây thẳng và phân nhánh mạnh. Để đạt được mục tiêu này và cải thiện các tính trạng, cá thường xuyên được lai cận huyết. Mục tiêu lai tạo cá halfmoon hoàn hảo thông qua phương thức lai tạo này làm nảy sinh một yếu tố mà nó ảnh hưởng đến các loại betta cảnh như chúng ta thấy ngày nay, yếu tố “đuôi hoa”.

Mặc dù có rất nhiều dạng đuôi hoa ở nhiều cấp độ khác nhau, đặc điểm chính của đuôi hoa là phân nhánh tia vây trên các vây lẻ quá mạnh khiến ảnh hưởng đến hình dạng tổng thể của bộ vây. Ở dạng cực hoa, đuôi thường có hình thoi/hoa. Các tia vây bên ngoài thường bị cong vẹo về phía trước. Tuy nhiên, tiêu chuẩn về đuôi của cá halfmoon quy định rằng đuôi phải có hình chữ D với các tia vây thẳng.

Những đặc điểm thường đi đôi với cá “đuôi hoa” gồm:

Đối với các thể loại plakat được mô tả trong tiêu chuẩn, những vấn đề như trên hầu như được phát hiện ở các thể loại plakat cảnh đối xứng và plakat cảnh bất đối xứng bởi vì mối liên hệ của chúng đối với dạng đuôi halfmoon. Một khi các tiêu chuẩn được mọi người hiểu một cách thấu đáo, dạng đuôi cực hoa sẽ không còn chỗ đứng trong các cuộc triển lãm và trong một số trường hợp có thể bị loại ngay từ đầu.

Ghi chú

Phân biệt “phân nhánh sơ cấp” (tức 2 nhánh) khác với “nhánh sơ cấp” (tức nhánh đầu tiên).

Nguồn: http://www.diendancacanh.com


【#6】Cơ Bản Sơ Lược Về Các Lớp Màu Ở Cá Betta

1. Tế bào sắc tố là gì và có bao nhiêu loại?

Tế bào sắc tố nằm ở lớp da bên ngoài và tạo nên màu sắc của cá. Có hai loại tế bào sắc tố là tế bào sinh học (biochrome) và tế bào cấu trúc (schemachrome).

Tế bào sinh học bao gồm tế bào đen/nâu (melanophore), tế bào đỏ/cam (erythophore), tế bào vàng (xanthophore) và tế bào xanh/tím (cyanophore, loại này chỉ tồn tại ở một số loài cá biển và bò sát, thông tin về chúng rất ít).

Tế bào cấu trúc bao gồm tế bào ánh kim xanh (iridophore) và tế bào ánh kim trắng (leucophore).

2. Bản chất tạo màu của các loại tế bào sắc tố?

Các tế bào sinh học chứa sắc tố (pigment) tương ứng với nó. Sắc tố phản xạ với một loại màu nhất định và hấp thu tất cả những màu còn lại. Chẳng hạn, tế bào đỏ/cam có chứa sắc tố carotene (và các dẫn xuất khác của nó như astaxanthin, cathaxanthin), chất này phản xạ ánh sáng đỏ/cam và hấp thu tất cả các màu còn lại nên chúng ta thấy cá có màu đỏ/cam.

Các tế bào cấu trúc không chứa sắc tố mà là tinh thể trong suốt. Vì trong suốt nên ánh sáng đi xuyên qua nó chứ không bị hấp thu như ở sắc tố. Màu mà chúng ta nhìn thấy là bước sóng ánh sáng phản xạ từ bề mặt tinh thể.

3. Màu ánh kim (hay màu cấu trúc) ở cá betta gồm những loại màu gì?

Màu ánh kim ở cá betta bao gồm:

– Các loại màu truyền thống như xanh dương, xanh thép và xanh lục.

– Màu đồng và những màu xuất phát từ màu đồng như metallic hay mask.

4. Sự khác nhau giữa các loại màu ánh kim ở cá betta?

Đó là sự lấp lánh. Các màu mới như màu đồng, metallic và mask có độ lấp lánh nhất định so với các màu ánh kim truyền thống. Để hiểu rõ nguyên nhân, chúng ta hãy tìm hiểu cấu tạo của tế bào ánh kim của mỗi loại màu:

– Ở những màu ánh kim truyền thống như xanh dương, xanh thép và xanh lục, cấu tạo của tế bào ánh kim bao gồm nhiều tấm hay đĩa tinh thể với kích thước và khoảng cách đồng nhất nên chúng phản xạ ánh sáng hầu như ở một bước sóng (ở mọi góc phản xạ), cho nên chúng ta chỉ thấy cá có một màu nhất định.

– Ngược lại, ở những màu mới như màu đồng, metallic và mask, các tấm tinh thể có độ dày khác nhau và khoảng cách giữa các tấm cũng khác nhau, cho nên chúng phản xạ ánh sáng theo một dải sóng (các bước sóng khác nhau ở từng góc phản xạ) vì vậy chúng ta thấy cá lấp lánh mỗi khi chúng chuyển động hay khi chúng ta thay đổi góc nhìn!

5. Các lớp màu ở cá betta?

Các lớp màu ở cá betta thuần dưỡng theo thứ tự từ ngoài vào trong gồm:

1/ ánh kim (iridophore): xanh dương, xanh lục, xanh thép và màu đồng (copper).

2/ đỏ

3/ đen

4/ vàng/cam

Ở cá betta hoang dã, lớp màu đen nằm trước lớp màu đỏ!

6. Bản chất của màu trắng và bạch tạng ở cá betta?

Màu trắng: bao gồm opaque và phấn (pastel). Màu trắng ở cá betta hình thành nhờ sự tích lũy của chất guanine lên bề mặt da. Một số cá thể opaque bị khiếm khuyết gen và không thể ngưng việc tích lũy này. Chất guanine tích lũy ngày càng dày, thậm chí chúng còn tích lũy lên cả nhãn cầu làm mắt cá bị sùi lên. Những con cá opaque như vậy thường bị lòa dần khi về già nên chúng ta phải cho chúng sinh sản càng sớm càng tốt.

Bạch tạng: khi tất cả các lớp màu ánh kim, đỏ, đen, vàng/cam không hiện diện ở thân và vây (còn mắt là một trường hợp đặc biệt).

– Màu bạch tạng ở vây là màu trong suốt (không phải lớp phấn) như ở cá betta bướm.

– Màu bạch tạng ở thân là màu thịt (vì thiếu tất cả các lớp màu).

– Màu bạch tạng ở mắt là màu đỏ (mắt bình thường có màu đen).

Các màu cơ bản

Có tổng cộng 6 màu cơ bản như sau:

– Trắng

– Đen

– Vàng

– Đỏ

– Xanh dương

– Xanh lục

Các màu phối hợp

Là kết hợp giữa các màu cơ bản, chẳng hạn:

– Cam = Đỏ + Vàng

– Tím = Đỏ + Xanh

– Hồng = Đỏ + Trắng

– Nâu = Đỏ + Đen

– Xám = Đen + Trắng

– Xanh lá mạ = Xanh lục + Vàng

– Xanh ngọc = Xanh lục + Xanh

Vấn đề của màu đỏ

Màu đỏ thường dính màu đen hay ánh kim nên người ta phải lai với cambodian để xóa đi. Nhưng cambodian lại làm mất lớp màu đen bên dưới và làm màu đỏ nhạt đi.

Để duy trì dòng cá đỏ, người ta lai xa chúng với dòng cá đỏ chất lượng khác hay cá màu cam.

Vấn đề của màu vàng/cam

Lai cá màu vàng với nhau mãi sẽ làm màu sắc càng lúc càng nhợt nhạt (không rõ tại sao) nên người ta thường lai với cá màu đỏ để củng cố màu vàng.

Màu vàng cũng bị dính ánh kim và đen nên phải lai với cambodian để xóa bớt. Có ý kiến cho rằng lai cá màu vàng với cambodian là cách tốt nhất để duy trì màu vàng.

Như vậy, cá cambodian đóng vai trò rất quan trọng trong việc duy trì các dòng cá khác.

Dịch bởi: Vnreddevil – diendancacanh

Ở loài rồng (Dragon) ta cũng có một số bản màu như sau: (đây là một số bản màu mà chính tôi đã lai tạo và nhận thấy suốt thời gian qua).

Rồng Vàng + Rồng Đỏ = Rồng Cam, Rồng Đỏ ảnh Vàng, rồng Cam ánh Vàng, Rồng Vàng đậm, Rồng Đỏ nhạt, Rồng Đỏ lột(Marble).

Rồng Xám(Copper) vẩy Bạc (silver) + Rồng Đỏ Xám = Rồng Đen, Rồng Đen Đỏ, Rồng Xám Đỏ, Rồng Siler Đỏ.

Rồng Gold + Đốm Cam (Dalmatian) = Rồng Gold vẩy Xanh ngọc, Cambodian, Đỏ, Rồng Gold đốm Cam.

Fancy:

Chọn cá cha có màu nền mà bạn thích ép với mái Fancy, rồng fancy = Kết quả.

P/s: Quan trọng là bạn phải kiên nhẫn, chờ đợi cá ở độ tuổi 5 tháng. Để có thể chọn ra những cá thể bạn xem là tốt nhất để duy trì nó.

Còn một số màu nữa tôi sẽ cập nhật tiếp….

Dòng cá Marble (cẩm thạch) là tên gọi chung cho dòng cá đa sắc, dòng cá đột biến màu sắc trên thân.

Còn các màu như: Monter (cá có phần màu sắc từ nắp mang trở lên phần miệng, đầu cá là trắng), Tiger (có sọc như cọp), Fancy (cá có nhiều màu [3 màu trở lên] và luôn luôn thay đổi màu sắc cho đến khi già), Koi (Có màu giống cá Koi). Đều thuộc dòng cá Marble.

Đặc điểm chung: tất cả nhóm màu thuộc dòng này khi về già đều trở lại màu cơ bản, nhị sắc, hoặc marble.


【#7】Làm Thế Nào Để Cứu Cá Betta Hấp Hối

Nếu bạn thấy chú cá betta của bạn đang thở hổn hển ở tầng đáy hoặc lờ đờ trên mặt nước của bể, màu sắc nhợt nhạt, vây đuôi rũ xuống, mắt không nhạy và mang cá quạt thấy rõ thì chúng có thể ở trong tình trạng nguy kịch. Có một vài điều bạn có thể làm để tăng cơ hội sống sót cho cá:

1. Kiểm tra các thông số nước

Điều kiện môi trường nước trong bể cá không đảm bảo là nguyên nhân có thể nhanh chóng gây tử vong cho bất kỳ loài cá nào. Đảm bảo nhiệt độ nước của bạn là từ 78 ° -80 ° F (25,5° đến 26,5°C). Cá Betta có dấu hiệu sắp chết thường có thể dễ dàng hồi sức nhờ việc điều chỉnh chất lượng nước. Duy trì chất lượng nước là điều thiết yếu để giữ cho cá khỏe mạnh và sống sót.

Kiểm tra xem nồng độ amoniac và nitrat trong bể của bạn bằng các bộ test nhanh có bán ở các tiệm cá cảnh. Các thông số nước an toàn là 0ppm amoniac và ít hơn 30ppm nitrat, nếu mức này cao hơn thì cá của bạn sẽ bị ngộ độc amoniac/nitrat và bạn sẽ cần tới 50% thay nước.

2. Cách ly cá thể bệnh

Nếu việc thay nước chưa làm cá hồi phục thì bạn cần phải di chuyển cá Betta của bạn đến một bể khác để cách ly cá bệnh với các con cá khác trong đàn. Để tránh trường hợp cá bị sốc với điều kiện nước mới bạn chỉ cần bỏ túi ni lông đựng cá vào nước khoảng 15-20 phút để điều chỉnh nhiệt độ trong nước.

Đối với việc thiết lập bể chữa bệnh cho cá, đảm bảo rằng ngoài các bước thông thường, bạn cũng cần thực hiện các bước sau:

1. Nếu nhận thấy cá bị chìm xuống đáy bể thì có khả năng cá đã mệt mỏi khi bơi lên mặt nước để thở do đó bạn sẽ cần phải giúp cá bằng cách hạ mực nước khoảng 1/4 từ mép kính để cá không phải bơi lên mặt nước lấy không khí. Ngoài ra, bạn cũng có thể đặt chúng trong một hộp hoặc một bồn nhựa lớn với nước nông (diện tích bề mặt lớn hơn để bù đắp cho độ sâu của nước.)

2. Bảo tồn năng lượng của cá bằng cách giảm dòng chảy của bộ lọc bằng cách chuyển đầu ra của máy lọc nước hoặc sục khí (nhắm vào kính hoặc vật thể) hay sử dụng bộ lọc bọt biển thay thế.

3. Sử dụng đá bọt để giúp oxy hóa nước để cho phép cá thở qua mang của nó dễ dàng hơn.

Nguồn Ảnh: arohouse.com

4. Đặt lá bàng khô trong bể cá hoặc ngâm chúng trong nước có thể tăng khả năng miễn dịch của cá, làm tăng sự thèm ăn, giải phóng tannin cho cá một cảm giác an toàn, có tính chất kháng khuẩn và hoàn toàn tự nhiên. Một kinh nghiệm khác là nấu nước lá bàng khô sau đó đổ nước vào trong bể lắng ngâm trong 10 tiếng rồi cho từ từ từng ít vào bể cá.

3. Xác định các triệu chứng bệnh và điều trị (Chỉ khi thích hợp)

Betta có khuynh hướng che giấu các triệu chứng của chúng cho đến khi chúng bị bệnh nặng hoặc nghiêm trọng. Vì vậy, bạn nên tiếp tục thực hành phục hồi sức khỏe và chờ cho đến khi cá đã ổn định (bắt đầu ăn hoặc ngừng thở hổn hển) trước khi sử dụng thuốc điều trị bệnh cho cá.

Một số bệnh thường gặp trên cá betta: Bệnh đốm trắng, Bệnh thối vây, Bênh lở miệng, Bệnh xù mang, Bệnh nấm velvet, Bệnh sình bụng, Bệnh sưng mắt, Bệnh bướu (lump), Bệnh đốm đỏ, Bệnh nhiễm khuẩn (bacteria), Bệnh ký sinh (parasite), Bệnh giun sán, Bệnh nhiễm virus.

Phòng ngừa là giải pháp tốt nhất:

Ngăn ngừa điều kiện khắc nghiệt có thể dẫn đến cái chết của cá betta đòi hỏi bạn phải giữ điều kiện môi trường nước nuôi cá ổn định và thuận lợi cho sức khỏe của cá qua 4 cách.

1. Bảo dưỡng định kỳ (thay nước, hút chất thải / thức ăn thừa và vệ sinh bộ lọc). Tỉa bớt cây thủy sinh phát triển quá nhiều. Làm vệ sinh hoặc thay bộ lọc than mỗi tháng một lần. Không dùng hóa chất hoặc xà phòng để rửa bể cá, điều này có thể giết chết cá. Nước nuôi cá hạn chế sử dụng nước máy nếu bắt buộc dùng phải khử CLo trước khi cho vào bể hoặc phơi ngoài trời ít nhất là 24h trước khi sử dụng. Clo và chloramines trong nước máy có thể gây hại cho cá betta, cũng như giết chết tất cả những vi khuẩn có lợi.

2. Một trong những cách tốt nhất để ngăn ngừa cá chết là cho cá ăn chế độ ăn cân bằng và phong phú. Một chế độ ăn uống tốt bao gồm thực phẩm đông lạnh, khô và sống phân bổ vào những thời điểm thích hợp (một lượng nhỏ hai lần một ngày) tránh cho ăn dư thừa.

3. Duy trì một môi trường thích hợp ( hệ thống lọc nước, sục khí cho bể cá, cây thủy sinh làm khu vực ẩn náu cho cá). Kiểm tra nước hàng tuần để luôn đảm bảo chất lượng nước.

4. Hãy lưu ý bất kỳ thay đổi nào của cá betta để kịp thời phòng bệnh cho cá.

Lược dịch: https://nippyfish.net


【#8】Sự Đa Dạng Đuôi Của Loài Cá Betta Cảnh

+ Cá betta Short tail (St – Đuôi ngắn):

Ngay từ xa xưa các chú cá Betta đều có dạng đuôi ngắn

+ Cá betta Veil tail (Đuôi màn):

Cá đuôi màn xuất hiện sau một thời gian dài bởi các nhà lai tạo cá Betta và nó đã chiếm lĩnh một phần lớn thị trường Betta trong thời gian khá dài.

+ Cá betta Roundtail (Đuôi quạt):

Dạng đuôi này là tiền đề cho loại đuôi Delta sau này. Đây là một bước tiến quan trọng của các nhà lai tạo+ Delta Tail (Đuôi Tam giác):

Đây là một dạng đuôi đẹp và lạ khi nó vừa xuất hiện bởi nhiều lý do : cạnh đuôi thẳng và đuôi có hình gần như tam giác, góc đuôi này nếu mở to và rộng bản ra trên 150 độ có thể được gọi là super delta và hơn nữa khi đạt 180 độ trở lên được gọi là Halfmoon hay Over Halfmoon.

+ Cá betta Đuôi Super Delta:

Đây là dạng đuôi tương tự như Delta nhưng với bản đuôi to hơn và đạt góc mở rộng hơn Delta, có thể lên 170 độ hoặc hơn.Super Delta còn được gọi là “Halfmoon Geno” bởi vì nó mang cùng gen với Halfmoon.

+ Cá betta Halfmoon (Đuôi nửa vầng trăng):

Cách đây chỉ khoảng 4-5 năm, Halfmoon là một dòng cá rất hiếm và quý, ngày nay với sự miết mài lai tạo của các nhà lai tạo Halfmoon đã có gần như đầy đủ các màu và giống cá, và là dòng cá tiêu chuẩn nhất trong tất cả các giống Betta đuôi dài hiện nay. Như tên gọi của nó đuôi Halfmoon có hình nửa vòng tròn đạt đến 180 độ hoặc hơn.

+ Cá betta Doubletail (DT – Đuôi kép):

Cá đuôi kép là một dang cá đột biến, bình thường cá có 1 vây đuôi thì ở cá đuôi kép có 2 vây đuôi tại gốc đuôi, hơn nữa vây lưng của cá đuôi kép có hình dạng đối xứng với vây hậu môn mà không có dòng cá nào có được hình dạng như vậy.

+ Cá betta Combtail (Đuôi lược):

Đuôi lược là dạng đuôi có các tia nhú ra ngoài màng đuôi, đây là loại cá có thể được tạo ra dễ dàng bằng cách lai 1 chú cá đuôi tưa và cá bình thường

+ Cá betta Crowntail (CT-Crowntail):

Đây là dòng cá của vùng Viễn Đông. Được lưạ chọn từ quá trình lai tạo giữa các giống Betta cho ra một dòng Betta Combtail mang tính trạng trội nổi bật đó là con Crowntail đầu tiên. Với các tua dài nhìn nổi bật. Giống Crowntail được phát hiện là con Crowntail có một chót, cho đến ngày nay Crowntail có nhiều chót hơn (2, 3, 4 và cả 8 chót).

+ Cá betta Rosetail (đuôi hoa):

Rose tail là một dạng đuôi được tạo thành do quá trình tuyển chọn đuôi của các nhà lai tạo, nó có giá trị cao trong việc cải thiện đuôi cho các con cá chia đuôi yếu (chia 2) tuy nhiên vẫn có rất nhiều nhà lai tạo ngại sử dụng dòng cá đuôi hoa này vì tính ổn định của chúng. Đây vẫn còn là 1 dạng đuôi gây tranh cãi. Tuy nhiên có thể nói đây vẫn là một dạng đuôi với chia đuôi cực tốt và nhiều dẫn đến vây đuôi của cá bị xếp lớp như cánh hoa chồng lên nhau hoặc bị triệt tiêu cả màng đuôi.

Ngoài các dạng đuôi trên vẫn còn một số dạng đuôi khác mà các bạn gặp phải trong lai tạo, tuy nhiên đó cũng chỉ là các dạng đuôi bị lỗi từ các dạng đuôi trên mà ra.

Nguồn ketviet


【#9】Bệnh Thường Gặp Của Cá Cảnh Betta

Cá cảnh Betta là loài cá có sức sống tốt. Nếu được sống trong môi trường tốt chúng sẽ không bị bệnh. Một số vấn đề thường gặp khi nuôi cá chọi trong bể cá cảnh như sau:

Chấn thương

Ngay cả khi trong bể các loài cá sống hài hòa thì chấn thương vẫn có thể xảy ra. Những con cá chọi có thể gây gổ tấn công bởi con đực tấn công con cái hoặc ngược lại hoặc giữa hai con cá đực hiếu chiến trong bể cá cảnh.

Vây và đuôi cá chọi betta là dễ bị tấn công bởi các loài cá cảnh khác trong bể cáTuy nhiên đây không phải là vấn đề nghiêm trọng vì vây và đuôi của chúng sẽ mọc trở lại nhanh chóng. Khi gặp trường hợp cá bơi không dung cách và tấn công nhau ta đặt chúng trong bể cách ly bởi các thông số nước tương tự và thêm một giọt thuốc khử trùng nước để tránh nhiễm trùng. Sau đó nuôi cá cho đến khi vây mọc lại khi đó ta sẽ để cá vào bể ban đầu.

Chú ý tới những vật trang trí trong bể cá, tránh bị xây xát, ta nên loại bỏ các trang trí cho cá bơi dễ dàng.

Khi cá bị chấn thương nghiêm trọng ta bỏ cá vào bể cá cách ly với nước thực sự sạch và trực tiếp làm sạch vết thương bằng một chất khử trùng như pha loãng Mercurochrome., điều trị cách này một lần một ngày, trong 3 hoặc 4 ngày.

Cá bơi lờ đờ

Khi cá bơi lờ đờ thường là bị nhiễm vi khuẩn, nhiễm ký sinh trùng hoặc táo bón, ngoài ra có thể cá bị thoái hóa. Chúng ta chỉ cần làm cho cá tiếp cận dễ dàng với các bề mặt nước, và chú ý tới mực nước trong bể cá phù hợp.

Bệnh đốm trắng

Đây là vấn đề thường xuyên nhất có thể phát triển trong một hồ cá, nó có thể được giải quyết dễ dàng miễn là điều trị của bạn là nhanh. Triệu chứng là các đốm trắng trên thân và vây, đẩy nhanh thở, chán ăn.Bệnh đầu tiên tấn công và cơ thể cá và mang, toàn thân bao phủ bởi đốm trắng, sau một vài ngày chúng lây lan sang các loài khác.

Khi cá bị bệnh nên tách riêng bể khác. Sau đó ta nâng nhiệt độ trong bể cao hơn bể cũ trong khoảng ba hoặc 4 tuần (80 ° – 82 °F) và thêm thêm một số giọt malachite xanh vào cả hai bể nuôi cá. Nhiệt độ cao giúp làm giảm tuổi thọ của bệnh đốm trắng trên mặt đáy bể cá.

Ngộ độc Amoniac

Bệnh này dễ gây chết cá trong bể cá cảnh một cách nhanh chóng nhất. Chúng ta phải nhanh chóng cân bằng cá yếu tố không tốt trong bể. Ví dụ như việc cá ăn quá mức làm bộ lọc quá tải. Cần thay đổi nước khoảng 50% trong 3-4 ngày và thêm than hoạt tính vào bộ lọc trong khoảng 5 ngày.

Khi cá bị ngộ độc sẽ bị mất cảm giác ngon miệng, cá bỏ ăn, thở nhanh và bị hôn mê. Nếu chắc chắn cá bị ngộ độc thì xét nghiệm nồng độ Nitrit và nirat nước trong bể cá.

Bệnh rách vây và thối đuôi

Trong điều kiện nước trong bể không tốt, các vi khuẩn sẽ phát triển nhanh chóng từ một chấn thương nhỏ trên cơ thể cá làm vây thối với những hiện tượng như vây bị thối, tia vây bị mủn ra xuất hiện những vết máu đỏ trên vây đối với cá cảnh.

Khi cá bị bệnh ta cho vào bể cách ly, chữa trị bằng thuốc kháng sinh và làm sạch vết thương sử dụng nước axit nhẹ ( PH 6) giúp chữa lành nhanh. Cũng làm sạch bể cá với những thay đổi nước và xanh methylene, sau đó sử dụng than hoạt tính.

Khi cá cảnh xảy ra những hiện tượng trên có thể giải quyết một số trường hợp với hóa chất, biện pháp khắc phục tại nhà:

1) Methylene Blue: là một chất khử trùng được sử dụng để chữa bệnh dự phòng, hoặc để chữa sán, nấm.

2) Malachite Green: được sử dụng cho bệnh đốm trắng và một số loại vi khuẩn khác.

3) Muối: sử dụng rất tốt khi cá bị nấm. Bỏ cá cho 15-30 phút trong một bể cá cảnh với một nửa muỗng cà phê muối vào 3,5l nước.

4) Formalin: có thể được sử dụng cho các ký sinh trùng bên ngoài. Bỏ cá trong 30 phút trong một bể với 1-4ml formalin trong 10.5l nước.

5) Tỏi: cho các bệnh đường ruột, bạn có thể thêm miếng nhỏ của tỏi để thức ăn cho cá đối với một số ngày. Tỏi là một chất kháng khuẩn tự nhiên. Tất nhiên hãy nhớ thay nước thường xuyên hơn trong thời gian này.

Hãy nhớ thay đổi nước sau khi điều trị kết thúc, và thêm carbon hoạt tính đặc biệt nếu bạn có các máy cho thức ăn trong hồ. Không thêm hoặc loại bỏ than hoạt tính trong điều trị! Trước khi điều trị lấy ra khỏi hồ cá ốc và các loài không xương sống khác.

Luôn luôn đưa cá mới vào bể cách ly ngay cả khi cá cảnh trông khỏe mạnh, để chúng ở đó trong 20 ngày và kiểm tra tình trạng của chúng. Cá từ các cửa hàng có thể phát triển bệnh dẫn đến giết chết cá của bạn.

Để ngăn chặn dịch bệnh, điều quan trọng là phải xác minh độ làm việc chính xác của các bộ lọc sinh học. Không vượt quá số lượng thức ăn cho cá, loại bỏ cá chết trong bộ lọc càng sớm càng tốt. Bạn còn phải nhớ để kiểm tra xem số lượng cá được cân đối với lượng nước: nếu số lượng cá quá cao là một trong những nguyên nhân đầu tiên của dịch bệnh.


【#10】Bán Các Loại Cây Cảnh Đẹp Giá Rẻ Tại Hà Nội Và Tp Hồ Chí Minh

Tác dụng của cây cảnh đối với con người

Bạn có thấy một điều khi bạn bước vào một không gian xanh, thì cơ thể bạn cảm thấy thoải mái và dễ chịu hơn không? Chúng ta cảm nhận được điều đó từ cây cảnh nhưng cụ thể vì sao thì rất ít người biết được hết tác dụng của cây cảnh. Tổng quan thì cây cảnh có ít nhất 15 lợi ích mà chúng ta có thể thấy và thừa nhận điều đó.

1. Cây cảnh cung cấp oxy ( O2 )

Theo nghiêm cứu của các nhà khoa học thì trong một năm, một cây trưởng thành có thể cung cấp đủ oxy ( O2 ) cho 18 người.

2. Cây cảnh cung cấp thực phẩm

Nguồn thực phẩm này chúng ta ai cũng đã từng ăn và nó còn được khuyến cáo là một nguồn thực phẩm rất tốt và nên được ăn nhiều. Không chỉ vậy đây cũng là nguồn lương thực chính của khá nhiều loài động vật hoang dã.

3. Cây cảnh giúp lấy lại cân bằng

4. Cây cảnh có khả năng hút bức xạ

Công nghệ ngày càng phát triển kèm theo đó là các loại bức xạ và sóng từ hiện hữu xung quanh chúng ta, như các thiết bị di động, wifi, máy tính, ti vi, lò vi sóng… Chúng đều phát ra từ tính ảnh hưởng đến cơ thể, và cây cảnh sẽ giúp bạn giảm bớt lượng từ tính hấp thụ.

5. Giúp tăng cường trí nhớ

Việc bạn tiếp xúc nhiều với cây cảnh thì đầu óc sẽ thoải mái hơn, điều đó sẽ giúp bạn tăng cường trí nhớ. Theo nghiêm cứu của các nhà khoa học người thường xuyên tiếp xúc với cây cảnh được tăng cường đến 20% trí nhớ.

6. Chống hiệu ứng nhà kính bằng cây cảnh

Hơi nóng từ mặt trời chiều xuống Trái Đất, bị mắc kẹt trong tầng đối lưu, gây ra hiện tượng nhiệt độ toàn cầu tăng lên, lý do khiến nó tăng lên là khí Carbon dioxide (CO2) là một khí nhà kính lớn. Cây hấp thụ CO2, loại bỏ và dự trữ carbon trong khi giải phóng oxy trở lại vào không khí.

7. Cây cảnh làm sạch không khí

Cây hấp thụ mùi hôi và các loại khí gây ô nhiễm (các oxit nitơ, amoniac, sulfur dioxide và ozone) và các hạt lọc ra khỏi không khí bằng cách giữ chúng trên lá và vỏ của chúng.

8. Giảm bức xạ, giảm nhiệt độ không khí

9. Cây cảnh giúp bảo tồn năng lượng

Nếu xung quanh ngôi nhà chúng ta là cây cảnh thì mùa hè có thể cắt giảm chi phí lắp máy điều hòa không khí, chúng ta sẽ tiết kiệm sử dụng năng lượng lên đến 50 %, điều này rất quan trong khi nguồn năng lượng trên quả đất đang dần cạn kiệt do con người.

10. Cây làm chậm quá trình bốc hơi nước

Vì nhiệt độ ở dưới bóng cây sẽ thấp hơn so với nhiệt độ bên ngoài bóng cây, vì vậy nó sẽ làm chậm quá trình bốc hơi nước.

11. Cây cảnh giúp ngăn ngừa ô nhiễm nước

Cây, cành và lá giúp phá vỡ lượng mưa trực tiếp xuống đất do đó cho phép nước chảy xuống tán lá và thân cây trước khi xuống mặt đất. Điều này còn có tác dụng ngăn cản các chất gây ô nhiễm từ nước mưa, lúc này cây có nhiệm vụ như một miếng bọt biển để lọc nước một cách tự nhiên và tái tạo ra một lượng nước ngầm sạch.

12. Cây xanh giúp chống xói mòn, sạt lở đất

Bộ rễ của cây bám chắc vào đất giúp đất liên kết với nhanh thành một thể thống nhất và chắc chắn, điều đó khiến đất không bị sạt lở và xói mòn.

Ung thư da là một căn bệnh phổ biến hiện nhất. Cây cảnh làm giảm sự phơi nhiễm UV-B khoảng 50 %, do đó cây cảnh thường được trồng nhiều để mục đích bảo vệ cho học sinh, trẻ em tại các trường học và sân chơi – nơi mà trẻ em dành nhiều giờ sinh hoạt ngoài trời.

14. Cây cảnh giúp cân bằng sinh thái

Ở những thành phố lớn dân cư đông đúc, nhà cửa san sát làm ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống của các loại động vật khác. Vì vậy, cây cảnh tạo nơi cư trú, nước, thức ăn cho các loại chim, bò sát…

15. Ý nghĩa phong thủy của cây cảnh

Điều này hơi mang một chút tâm linh so với các tác dụng của cây cảnh phía trên. Nhưng nó đã hoàn toàn được chứng minh và được mọi người công nhận. Cây cảnh cũng được coi là một vật phẩm phong thủy, giúp bạn có tiền tài, may mắn và sức khỏe.


Bạn đang xem chủ đề Cá Cảnh 37 trên website Lumiaappcampuschallenge.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!