【#1】Nam Định: Sản Xuất Thành Công Giống Cá Chép Lai

Trong các giống thủy sản nước ngọt được nuôi phổ biến trên địa bàn tỉnh, cá chép là đối tượng được nhiều người chọn nuôi. Trung tâm Giống thủy đặc sản (Sở NN và PTNT) đã sản xuất thành công giống cá chép lai giữa cá chép Việt Nam và cá chép Vân Nam (Trung Quốc) tập hợp những tính năng vượt trội có giá trị kinh tế thương phẩm cao nhằm đáp ứng nhu cầu người nuôi trong tỉnh.

Theo các kỹ sư thủy sản, cá chép Vân Nam có ưu điểm ngoại hình đẹp, thân dài, tốc độ phát triển nhanh, nuôi một năm cá có thể tăng trưởng lên tới 2kg. Tuy nhiên ở cá chép Vân Nam vẫn tồn tại một số nhược điểm như lưng có vảy ngược, chất lượng thịt không thơm ngon như cá chép ta. Trong khi đó, cá chép ta còn có màu sắc vảy đẹp, sức đề kháng cao. Chính vì vậy, cán bộ Trung tâm Giống thủy đặc sản tỉnh đã nghiên cứu cho lai giữa cá chép đực Vân Nam với cá cái Việt Nam và ngược lại nhằm mục đích tận dụng hết những đặc tính tốt của 2 giống cá, hạn chế những nhược điểm.

Năm 2021, Trung tâm đã nhập 150 cặp cá bố mẹ gồm cả cá chép Việt Nam và cá chép Vân Nam về để nuôi vỗ. Trung tâm đã chuẩn bị 4 ao nuôi được cải tạo kỹ bằng cách tháo cạn nước ao cũ, diệt sạch cá tạp, bón vôi, phơi đáy ao diệt khuẩn rồi mới cấp nước mới vào ao nuôi. Trước khi thả cá, cán bộ của Trung tâm phải kiểm tra điều chỉnh một số chỉ tiêu môi trường ao nuôi đạt tiêu chuẩn rồi tiến hành sục khí, phun nước để nâng cao hàm lượng ô-xy hòa tan trong nước ao nuôi. Đàn cá bố mẹ được vỗ khỏe mạnh, phát triển tốt, vận động linh hoạt, trọng lượng trung bình đạt từ 2-2,5kg.

Đầu năm 2021, Trung tâm bắt đầu cho đàn cá bố mẹ đẻ. Từ đàn cá giống bố mẹ, Trung tâm đã sản xuất được khoảng 5-10 triệu con cá bột, 50 vạn con cá hương và 30-40 vạn con cá giống phục vụ người nuôi có nhu cầu trên địa bàn tỉnh ta và các tỉnh lân cận như Ninh Bình, Thái Bình. Thế hệ cá chép lai giữa 2 loại cá có đầy đủ ưu điểm của cá bố mẹ, không còn vảy ngược, thịt cá chắc, thơm ngon, tốc độ phát triển nhanh và đặc biệt là vẫn giữ được ngoại hình đẹp, vảy đều, màu sắc đẹp.

Anh Nguyễn Văn Tuấn, xã Trực Đạo (Trực Ninh), người mua giống cá chép lai của Trung tâm cho biết: “Gia đình tôi đầu tư nuôi cá nước ngọt, trong đó có số lượng lớn cá chép. Trước đây, do còn thiếu thông tin nên tôi thường mua cá giống của các tiểu thương bán trôi nổi trên thị trường, do đó, cá giống có chất lượng không đồng đều, hao hụt nhiều trong quá trình nuôi. Nhiều năm trở lại đây, tôi chỉ tin mua cá giống tại những cơ sở uy tín, đảm bảo chất lượng. Năm nay, được bạn bè giới thiệu, biết Trung tâm Giống thủy đặc sản Nam Định sản xuất thành công giống cá chép lai, tôi đã tin tưởng và đặt mua 5 vạn con cá chép lai giống. Đến thời điểm hiện tại, đàn cá khá khỏe mạnh, phát triển nhanh, tỷ lệ hao hụt thấp”. Anh cho biết thêm, với những đặc tính nổi trội hơn hẳn so với giống cá bố mẹ, cá chép lai thương phẩm chắc chắn sẽ được đông đảo người tiêu dùng lựa chọn. Mức giá khi thu hoạch dự tính sẽ dao động từ 50-60 nghìn đồng/kg, cao hơn so với cá chép Việt Nam, cá chép Vân Nam từ 5-10 nghìn đồng/kg. Phát huy những kết quả bước đầu, trong năm 2021 và các vụ nuôi tiếp theo Trung tâm sẽ mở rộng sản xuất và nuôi thương phẩm đối chứng giống cá chép lai giữa cá chép Việt Nam và cá chép Vân Nam với các giống cá chép khác để kiểm tra, theo dõi sự phát triển thực tế của đàn cá. Sau đó, Trung tâm sẽ thực hiện chuyển giao công nghệ cho các cơ sở sản xuất giống có nhu cầu để tiến hành sản xuất giống cá chép lai rộng rãi hơn trên địa bàn tỉnh.

Việc sản xuất thành công giống cá chép lai đi đôi với lưu trữ, bảo tồn những loài cá bản địa là những giống thủy sản quý đang được Trung tâm Giống thủy đặc sản Nam Định tập trung thực hiện. Hiện tại Trung tâm vẫn đang đầu tư cơ sở vật chất hạ tầng. Hoàn thiện dự án cải tạo, sửa chữa hệ thống ao ương, sản xuất giống, hứa hẹn sẽ có những thành công mới, góp phần thúc đẩy ngành thủy sản của tỉnh phát triển bền vững.

【#2】Thành Công Trong Sản Xuất Giống Cá Chép Lai

Trại Nghiên cứu và Sản xuất Giống thủy sản cấp I (Trung tâm Giống nông nghiệp Lào Cai) đã nghiên cứu, cải tạo chất lượng, từng bước làm chủ công nghệ sản xuất giống cá chép lai, đáp ứng nhu cầu người nuôi trong và ngoài tỉnh theo hướng hàng hóa.

Kiểm tra sự thành thục của cá cái Ảnh: T.T

Trên cơ sở nghiên cứu khoa học bằng phương pháp lai xa, Trại Nghiên cứu và Sản xuất Giống thủy sản cấp I đã mạnh dạn cho lai cá chép đực (thân hình dài, tốc độ sinh trưởng nhanh, bụng bé) thuộc tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) với cá cái chép Việt Nam (màu sắc vàng đẹp, sức đề kháng cao, thịt thơm ngon). Sau đó, dùng phương pháp chọn lọc hàng loạt qua nhiều thế hệ, dựa vào kiểu hình để chọn lọc đàn cá hậu bị có chất lượng tốt nhất (dựa trên tốc độ tăng trưởng, thân hình dài, màu sắc…). Từ đó, tiếp tục chọn những cá thể tốt nhất trong đàn cá hậu bị để trở thành đàn cá bố mẹ, rồi tiến hành nuôi vỗ theo quy trình để tạo ra thế hệ F1.

Con lai sinh sản ra được nuôi hậu kiểm tại Trại Nghiên cứu và Sản xuất Giống thủy sản cấp I cho thấy, cá có đầy đủ ưu điểm của cá bố, mẹ. Sau 6 tháng nuôi, đạt trọng lượng trung bình 1,5 kg/con, thân dài, màu sắc đẹp, ngoại hình giống cá chép sông, tốc độ sinh trưởng nhanh. Ông Nguyễn Duy Triệu, Trưởng Trại cho biết, vượt qua nhiều khó khăn, đến nay, các cán bộ, kỹ sư trại đã làm chủ công nghệ sản xuất giống cá chép lai. Đàn cá bố, mẹ hiện đã đạt chuẩn, trọng lượng 4 – 6 kg/con, khỏe mạnh, đảm bảo cho việc sản xuất đàn cá F1 chất lượng cao. Sắp tới, có thể trại sẽ đề xuất công nhận đây là giống cá chép mang thương hiệu Lào Cai.

Thời gian tới, Trại Nghiên cứu và Sản xuất Giống thủy sản cấp I sẽ tiếp tục duy trì giống cá chép lai chất lượng cao, đồng thời sản xuất thêm nhiều giống cá khác, đáp ứng nhu cầu nuôi thủy sản ngày càng cao của người dân.

【#3】Công Nghệ Sản Xuất Giống Cá Chép Lai Việt Nam

Trại Nghiên cứu và Sản xuất giống thủy sản cấp I (Trung tâm Giống nông nghiệp Lào Cai) đã thành công trong công nghệ sản xuất giống cá chép lai khỏe mạnh, chất lượng thịt thơm ngon, giá cả ổn định được thị trường chấp nhận.

Những năm qua, nghề nuôi thủy sản trên địa bàn tỉnh có những bước phát triển mạnh. Trong đó, cá chép được nhiều người chọn nuôi theo hướng thâm canh hàng hóa và bán thâm canh. Trước tình hình đó, Trại Nghiên cứu và Sản xuất giống thủy sản cấp I đã nghiên cứu, cải tạo chất lượng, lai tạo giống cá chép lai tốt nhất, nhằm đáp ứng nhu cầu người nuôi trong tỉnh theo hướng hàng hóa, đồng thời cung cấp giống cho các tỉnh lân cận.

Kỹ thuật sản xuất giống cá chép lai Việt Nam- Trung Quốc: Bằng phương pháp lai xa, tập thể cán bộ, kỹ sư Trại Nghiên cứu và Sản xuất giống thủy sản cấp I đã mạnh dạn cho lai cá chép đực (thân hình dài, tốc độ sinh trưởng nhanh, bụng bé) thuộc tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) với cá cái chép Việt Nam (màu sắc vàng đẹp, sức đề kháng cao, thịt thơm ngon). Sau đó dùng phương pháp chọn lọc hàng loạt qua nhiều thế hệ, dựa vào kiểu hình để chọn lọc đàn cá hậu bị có chất lượng tốt nhất (dựa trên tốc độ tăng trưởng, thân hình dài, màu sắc…). Từ đó tiếp tục chọn những cá thể tốt nhất trong đàn cá hậu bị để trở thành đàn cá bố mẹ, rồi tiến hành nuôi vỗ theo quy trình để tạo ra thế hệ F1. Con lai sinh sản ra được nuôi hậu kiểm tại Trại Nghiên cứu và Sản xuất giống thủy sản cấp I cho thấy, cá có đầy đủ ưu điểm của cá bố, mẹ. Sau 6 tháng nuôi, cá đạt trọng lượng trung bình 1,5 kg/con, thân dài, màu sắc đẹp, ngoại hình giống cá chép sông, tốc độ sinh trưởng nhanh.

Trải qua nhiều khó khăn, đến nay, giống cá chép lai do Trại Nghiên cứu và Sản xuất giống thủy sản cấp I không chỉ được cung cấp trên địa bàn tỉnh, mà còn được xuất bán đi các tỉnh, thành phố khác, như Nam Định, Vĩnh Phúc, Hà Nội, TP Hồ Chí Minh… được người nuôi đón nhận.

Anh Đoàn Văn Khoa, thôn Phú Hải 3, xã Phú Nhuận (Bảo Thắng) cho biết: Gia đình tôi đầu tư nuôi cá, trong đó, cá chép chiếm phần lớn. Trước đây, gia đình thường mua cá giống của các tiểu thương bán trôi nổi trên thị trường, do đó, cá thường có chất lượng không đồng đều, hao hụt nhiều trong quá trình nuôi. Tuy nhiên, 7 năm nay, khi biết Trại Nghiên cứu và Sản xuất giống thủy sản cấp I sản xuất thành công giống cá chép lai, tôi luôn tin tưởng mua cá giống từ trại, mỗi năm khoảng 2.000 con. Thực tế khi nuôi, cá khỏe mạnh, ít bệnh, phát triển nhanh, chỉ sau 6 – 7 tháng thả nuôi đã đạt trọng lượng từ 1,5 – 2 kg/con, trong quá trình nuôi, tỷ lệ cá hao hụt rất thấp. Bên cạnh đó, cá thương phẩm được thị trường rất ưa chuộng, do chất lượng thịt thơm ngon. Giá bán cá thương phẩm cũng ổn định, từ 40.000 – 45.000 đồng/kg.

Ông Nguyễn Duy Triệu, Trưởng Trại Nghiên cứu và Sản xuất giống thủy sản cấp I cho biết: Vượt qua nhiều khó khăn, đến nay, cán bộ, kỹ sư trại đã làm chủ công nghệ sản xuất giống cá chép lai, có thể gọi là giống cá hoàn toàn mới. Đàn cá bố, mẹ hiện đã đạt chuẩn, trọng lượng từ 4 – 6 kg, khỏe mạnh, đảm bảo cho việc sản xuất đàn cá F1 chất lượng cao. Sắp tới, có thể trại sẽ đề xuất công nhận đây là giống cá chép mang thương hiệu Lào Cai.

Theo thống kê, số lượng giống cá chép lai do trại sản xuất tăng lên hằng năm. Năm 2021, trại sản xuất 190 vạn cá bột, đạt 65 vạn cá giống cỡ 1,5 – 2 cm, thì đến 2021, đã tăng lên 300 vạn cá bột, đạt 100 vạn cá giống cỡ 1,5 – 2 cm. Hiện, mỗi năm, trại cung cấp ra thị trường khoảng 80 vạn con giống cá chép lai.

Trong thời gian tới, Trại Nghiên cứu và Sản xuất giống thủy sản cấp I sẽ tiếp tục duy trì giống cá chép lai chất lượng cao, đồng thời sản xuất thêm nhiều giống cá khác, đáp ứng nhu cầu nuôi thủy sản ngày càng cao của người dân.

【#4】Thành Công Của Nuôi Thương Phẩm Và Sản Xuất Giống Cá Bống Bớp

Cá bống bớp là một trong những đối tượng thủy sản nuôi chủ lực của tỉnh ta. Với đặc tính thịt thơm ngon, giá trị dinh dưỡng cao nên cá bống bớp hiện được thị trường rất ưa chuộng, thậm chí đã được xuất khẩu tiểu ngạch sang một số thị trường lân cận.

Điều kiện thời tiết những tháng đầu năm khá thuận lợi cho việc nuôi thương phẩm và sản xuất cá bống bớp giống. Tổng diện tích nuôi thả cá bống bớp toàn tỉnh là 300ha. Người nuôi đang tiến hành thu tỉa thả bù. Tính đến thời điểm hiện tại, người nuôi cá bống bớp trên địa bàn tỉnh đã thu hoạch được trên 520 tấn cá thương phẩm. Nuôi cá bống bớp đang thắng lớn khi giá cá đang đứng ở mức 300-310 nghìn đồng/kg. 6 tháng đầu năm toàn tỉnh sản xuất được 23 triệu con giống cá bống bớp. Anh Trần Thanh Thùy, đội 2, nông trường Bạch Long (Giao Thủy) là chủ của cơ sở sản xuất giống thủy sản Đức Thùy, chuyên sản xuất giống các loại tôm sú, cá bống bớp, cua, ngao… đã được 5 năm với 40 bể và 9 ao. Anh Thùy cho biết: “Cá bống bớp giống năm nay đạt chất lượng tốt, giá bán cũng cao hơn so với nhiều năm trước. Những năm trước giá cá bống bớp giống dao động từ 3.000-4.000 đồng/con nhưng năm nay giá tăng lên 7.000-8.000 đồng/con. Người nuôi đã nhận ra những ưu điểm và giá trị kinh tế mà cá bống bớp mang lại nên nhu cầu con giống cũng cao hơn. Từ đầu năm đến nay, tôi đã sản xuất được gần 5 triệu con giống phục vụ chủ yếu cho người nuôi ở huyện Nghĩa Hưng. Có thể nói năm nay là một năm thành công của người sản xuất giống cá bống bớp”. Ngoài cơ sở Đức Thùy, cơ sở sản xuất giống thủy sản Phương Bắc, đội 2, nông trường Bạch Long (Giao Thủy) cũng gặt hái được nhiều thành công. Anh Phương chủ cơ sở cho biết, từ đầu năm đến nay cơ sở của anh đã sản xuất được 7,5 triệu con giống, không những đảm bảo đủ số lượng cung cấp cho thị trường mà còn đạt chất lượng, hiệu quả cao. Anh cho biết: “Để có được những con giống đảm bảo chất lượng, khỏe mạnh, theo tôi khâu quan trọng nhất là khâu tuyển chọn cá bố mẹ. Những con được chọn phải có sức khỏe tốt, bơi lội linh hoạt, kích thước đồng đều, không bị dị tật”… Các hộ nuôi cá bống bớp thương phẩm năm nay cũng vô cùng phấn khởi. Chúng tôi đến thăm một số hộ nuôi cá bống bớp thương phẩm ở các xã Nghĩa Bình, Nam Điền và Thị trấn Rạng Đông (Nghĩa Hưng) đều được chứng kiến không khí làm việc sôi động nét mặt ai cũng thể hiện rõ sự phấn chấn, hồ hởi. Nghĩa Hưng có vùng bãi triều rộng lớn, có nhiều lợi thế thích hợp cho sự sinh trưởng của cá bống bớp. Nhiều năm nay, thương hiệu cá bống bớp Nghĩa Hưng đã được nhiều người biết đến. Ông Vũ Mạnh Bằng, xã Nghĩa Bình (Nghĩa Hưng) vui vẻ cho biết: “Tôi nuôi cá bống bớp đã được hơn chục năm nay nhưng có lẽ năm nay là năm thành công nhất. Từ đầu năm đến nay, điều kiện thời tiết rất phù hợp cho việc nuôi cá bống bớp thương phẩm. Chính vì vậy đàn cá lớn nhanh, khỏe mạnh, không có dịch bệnh. Cá thu hoạch đạt khoảng 10 con/kg. Quá trình chăn nuôi cá tôi luôn chú trọng đảm bảo chất lượng nguồn nước, định kỳ thay nước 2 lần/tháng và sử dụng các chế phẩm sinh học để xử lý môi trường nước ao nuôi; bổ sung vitamin tổng hợp, men tiêu hóa vào thức ăn để tăng cường sức đề kháng, chống sốc cho cá, đặc biệt là vào những thời điểm trước khi giao mùa hay trước những đợt nắng nóng kéo dài”. Chính vì vậy nên từ đầu năm đến nay, hộ ông Bằng đã thu được lãi hàng trăm triệu đồng từ cá bống bớp với mức giá 310 nghìn đồng/kg. Ông khẳng định, từ ngày ông nuôi cá bống bớp đến nay chưa bao giờ có giá cao như năm nay.

Nhân viên nông trường Bạch Long (Giao Thủy) kiểm tra chất lượng giống cá bống bớp.

Từ những kết quả thực tế trên cho thấy, cá bống bớp đang ngày càng được thị trường ưa chuộng. Việc “trúng đậm” nuôi thương phẩm và sản xuất cá bống bớp giống sẽ giúp người dân tiếp tục có động lực để sản xuất ngày càng hiệu quả. Tuy nhiên, rút kinh nghiệm từ các địa phương khác, các cơ quan chức năng và địa phương cần tăng cường quản lý, kiểm soát và tuyên truyền, tránh để người dân thấy lợi ồ ạt đầu tư mở rộng diện tích nuôi. Làm tốt công tác phân tích thị trường để phòng ngừa gia tăng nuôi dẫn đến cung vượt cầu thiệt hại cho người nuôi./.

【#5】Nghiên Cứu Thành Công Giống Cá Lóc Bông

Nhờ việc đẩy mạnh tiếp thu ứng dụng và phát triển công nghệ, nhiều năm qua, Trung tâm Giống Thủy sản Thái Bình đã làm chủ được những công nghệ sản xuất giống thủy sản tiên tiến, đưa ra sản xuất đại trà nhiều giống nuôi trồng thủy sản mới có giá trị kinh tế hàng hóa cao, góp phần thúc đẩy chương trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi của tỉnh. Trong đó, cá Lóc Bông là một trong các giống nuôi trồng thủy sản có giá trị kinh tế cao đang được bà con nông dân chọn nuôi.

Là tỉnh nông nghiệp trọng điểm của vùng đồng bằng sông Hồng, cùng với sản xuất trồng trọt và chăn nuôi, thì nuôi trồng thủy hải sản những năm qua luôn chiếm giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn của Thái Bình. Để khai thác có hiệu quả trên chục nghìn ha mặt nước sông ngòi, ao hồ và đẩy mạnh chương trình chuyển đổi diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy hải sản theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, thì cơ cấu con giống và chất lượng giống nuôi trồng đóng vai trò quan trọng.

Việc sản xuất giống bằng công nghệ truyền thống không đáp ứng đủ nhu cầu của phong trào nuôi, chỉ đáp ứng được khoảng 50% con giống. Hơn nữa, mùa vụ sản xuất cá giống lại muộn hơn mùa vụ nuôi thả cá giống. Do đó, phải nhập mua một lượng giống cá lớn từ tỉnh ngoài, chủ yếu là phía Nam nhưng nguồn gốc không rõ ràng, chất lượng không ổn định, chi phí vận chuyển và tỷ lệ hao hụt cao do sự thay đổi vùng sinh thái nên hiệu quả kinh tế của các hộ nuôi trồng cá Lóc Bông thương phẩm chưa cao. Với nhu cầu cấp thiết về giống cá, năm 2008, Trung tâm Giống Thủy sản Thái Bình đã nghiên cứu quy trình sản xuất giống cá Lóc Bông bằng phương pháp sinh sản nhân tạo nhằm đáp ứng thị trường con giống trong và ngoài tỉnh. Sau 2 năm triển khai, quy trình đã thành công và đây cùng là đề tài khoa học công nghệ sản xuất giống cá Lóc Bông thành công đầu tiên trong khối các tỉnh, thành phía Bắc, được Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam cấp bằng lao động sáng tạo.

Qua thực tiễn nghiên cứu cho thấy, cá Lóc Bông có những ưu điểm như: phàm ăn, tăng trọng nhanh, khả năng chống chịu ngoại cảnh tốt, thích nghi với nhiều loại hình mặt nước và phương thức nuôi khác nhau, năng suất nuôi trồng cao, chất lượng thịt cá thơm ngon, hấp dẫn, có thể chế biến thành nhiều món ăn đặc sản trong các nhà hàng. Vì thế, cá Lóc Bông được coi là giống cá có giá trị kinh tế hàng hóa cao. Thời gian qua, Trung tâm Giống Thủy sản Thái Bình đã không ngừng phát triển và hoàn thiện công nghệ sản xuất. Hàng năm, cung ứng cho các địa phương trong tỉnh và các tỉnh thành lân cận hàng trăm triệu cá bột. Sau gần 4 năm nghiên cứu, sản xuất, đến nay, giống cá Lóc Bông đã được thực tiễn sản xuất khẳng định là giống cá dễ nuôi, khả năng thích ứng sinh thái rộng, tăng trọng nhanh, có giá trị hàng hóa thương phẩm cao, vì thế đã trở thành một trong các giống nuôi trồng chủ lực ở các vùng sinh thái khu vực đồng bằng sông Hồng với nhiều mô hình nuôi cho hiệu quả kinh tế cao.

Để bảo vệ bản quyền phát triển công nghệ, thời gian qua, Trung tâm Giống Thủy sản Thái Bình đã thực hiện đầy đủ các thủ tục công bố tiêu chuẩn chất lượng cho giống cá Lóc Bông, làm tiền đề cho việc chuyển giao, phổ cập sâu rộng hơn nữa công nghệ sản xuất giống cá cho các địa phương trong và ngoài tỉnh. Đơn vị đang hướng tới đăng ký bản quyền thương hiệu nhân giống cho giống cá này. Tuy nhiên, để đáp ứng được nhu cầu giống cá Lóc Bông phục vụ phong trào nuôi trong tỉnh và một phần bán ra tỉnh ngoài, đồng thời khẳng định chất lượng giống cá Lóc Bông tại tỉnh Thái Bình, cần sự quan tâm tạo điều kiện về nguồn vốn để tiếp tục mở rộng sản xuất giống cá Lóc Bông bằng phương pháp sinh sản nhân tạo.

Đức Dũng

【#6】Nhân Giống Thành Công Cá Mú Trân Châu Tại Ninh Thuận

Nhằm đa dạng đối tượng nuôi biển thích ứng với biến đổi khí hậu, tỉnh Ninh Thuận đã nghiên cứu nhân giống, sản xuất thành công giống cá mú Trân Châu, mở ra triển vọng phát triển kinh tế mới từ loại cá biển cho giá trị kinh tế cao này.

Cá mú Trân Châu giống do Trung tâm giống hải sản cấp I (thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Ninh Thuận) nghiên cứu sản xuất thành công. Ảnh: Nguyễn Thành.

Vì vậy, để chủ động nguồn giống, Trung tâm giống hải sản cấp I Ninh Thuận (thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Ninh Thuận) đã nghiên cứu quy trình kỹ thuật sản xuất giống cá mú Trân Châu nhằm phục vụ nhu cầu nuôi cá mú thương phẩm cho người dân trong và ngoài tỉnh. Từ đó, hạn chế tình trạng phụ thuộc vào nhập ngoại giống cá mú Trân Châu như hiện nay.

Ông Nguyễn Văn Dũng, Giám đốc Trung tâm giống hải sản cấp I Ninh Thuận cho biết, cá mú Trân Châu là con lai giữa cá mú Nghệ đực (Epinephelus lanceolatus) và cá mú Cọp cái (Epinephelus fuscoguttatus), đây là loại cá biển mới có giá trị kinh tế cao được các nước như Trung Quốc, Indonesia sản xuất giống thành công. Tại Việt Nam hiện mới có một số Viện nghiên cứu, đại học thủy sản bước đầu nghiên cứu, sản xuất.

Việc Ninh Thuận sản xuất thành công giống cá mú Trân Châu có nghĩa quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển giống cá này tại Việt Nam. Theo đó, nguồn cá thí nghiệm được sản xuất tại trại thực nghiệm của Trung tâm, quá trình sản xuất giống cá mú Trân châu trải qua 2 giai đoạn. Giai đoạn 1 tuyển chọn trứng từ những cơ sở có uy tín, đảm bảo tỷ lệ thụ tinh và các yếu tố nhiệt độ, môi trường nước, độ mặn, độ kiềm…trước khi đưa trứng vào ấp.

Sau khi trứng nở 10 – 12 giờ, tiến hành thu những cá thể cá bột khỏe mạnh, loại bỏ cá bột yếu, dị hình, định lượng số lượng cá và thả vào ao nuôi. Tiếp tục đảm bảo môi trường nước, nhiệt độ, các yếu tố sinh hóa ao nuôi, cung cấp nguồn thức ăn ấu trùng phù hợp, đúng liều lượng cho cá. Duy trì sục khí suốt quá trình ương nuôi. Sau 25 – 30 ngày, chuyển cá vào trại sản xuất để phân cỡ và tiếp tục nuôi giai đoạn 2.

Số lượng cá bột đưa vào sản xuất thử nghiệm 100.000 con. Sau thời gian 2,5 tháng ương nuôi từ lúc trứng thụ tinh đến khi cá có kích cỡ 5 -7 cm (giai đoạn cá giống) đạt 5.000 con, tỷ lệ cá sống đến giai đoạn cá hương đạt 12%, đến giai đoạn cá giống 5%. Vừa qua, số giống cá mú Trân Châu sản xuất thành công đã hỗ trợ cho hai hộ nuôi để theo dõi khả năng thích nghi, sinh trưởng và hiệu quả kinh tế.

“Hiện nay, Trung tâm giống hải sản cấp I Ninh Thuận đang tiếp tục nghiên cứu kỹ thuật chăm sóc để nâng cao tỷ lệ sống trong sản xuất giống cá mú Trân Châu và tiến tới sản xuất nguồn giống đại trà. Đồng thời, hoàn thiện quy trình kỹ thuật nuôi cá mú Trân Châu thương phẩm để các hộ nuôi phát triển nhân rộng trong thời gian tới.”, ông Nguyễn Văn Dũng cho biết thêm.

Tại một số địa phương, cá mú Trân Châu được các hộ nuôi trong lồng bè hoặc ao đìa, bể. Sau 8 -10 tháng nuôi (tùy theo kích cỡ của cá giống) là có thể thu hoạch cá thịt, kích cỡ cá thương phẩm đạt từ 0,8 – trên 1kg/con. Do là loài cá mú lai nên cá mú Trân Châu có sức sinh trưởng nhanh, khả năng kháng bệnh cao, dễ chăm sóc hơn các loài cá mú khác (cá mú Chấm đen khoảng 14 tháng cho thu hoạch).

Loài cá mú Trân Châu có màu sọc rằn đen vàng, thịt cá dai, chắc và thơm ngọt, chứa nhiều chất dinh dưỡng dùng để chế biến nhiều món ăn ngon. Hiện tại, cá mú Trân châu chủ yếu được bán và chế biến trong các nhà hàng, khách sạn và luôn được coi là đặc sản. Tùy từng thời điểm cá mú Trân Châu tươi sống có giá giao động từ 200.000 đến trên 300.000 đồng/kg.

Cùng với sản xuất giống cá mú Trân Châu, hiện nay Trung tâm giống hải sản cấp I Ninh Thuận đang tiến hành sản xuất nguồn giống các loại cá biển có giá trị kinh tế cao khác như: Cá bớp, cá chẽm, cá chim vây vàng để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người nuôi.

Tỉnh Ninh Thuận có đường bờ biển dài hơn 105 km cùng với hệ thống đầm, vịnh, ao đìa đa dạng cộng thêm môi trường biển, nhiệt độ và độ mặn tại một số khu vực rất thích hợp nuôi các loại cá biển. Bên cạnh đó, tỉnh có khu quy hoạch để sản xuất giống lợ mặn và các trại giống dễ dàng sản xuất giống cá biển, cá mú. Từ những ưu điểm trên, nuôi cá mú Trân Châu sẽ có nhiều triển vọng phát triển tại Ninh Thuận nói riêng và Việt Nam nói chung.

【#7】Cá Mú Đỏ, Đen, Nghệ, Cọp, Bông, Cá Mú Giống Giá 1Kg Bao Nhiêu Tiền 2021

Cá mú là loại cá rất phổ biển chúng được nuôi nhiều ở những vùng ven biển. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết về loại cá đặc biệt này. Cá mú bông – Cá mú nghệ, cá mú giống – Giá 1kg bao nhiêu tiền, bài viết này của chúng tôi sẽ giới thiệu đầy đủ thông tin về loại cá này, mời các bạn cùng tham khảo.

Cá mú là một trong những loại cá biển, loài cá này đặc biệt thơn ngon và được nhiều người ưa thích khi thưởng thức chúng. Đây là một trong những đặc sản của vùng biển, đặc biệt là vùng biển Quảng Ninh, Nghệ An, Thanh Hóa.

Cá mú cùng họ với loại cá song chúng thuộc bộ cá vược và cho đến hiện nay chúng có hơn 400 loài được phân bố ở nhiều nơi trên thế giới. Có lẽ đối với nhiều người loài cá này khá xa lạ nhưng đối với những người dân vùng biển thì nó như là một loại đặc sản.

Ở phân dưới chúng tôi sẽ hướng dẫn các bạn cách chế biến cá mú một cách rất chi tiết.

Đặc điểm của cá mú

Cá mú có đặc điểm khác biệt so với những loại cá khác, chúng có thân hình khá mập mạp, rất nhiều thịt Cân nặng trung bình từ 1 đến 2 kg. Tuy nhiên loài cá mú nghệ là loại cá mú có căn nặng lớn nhất khi trưởng thành có thể nặng lên tới 50- 60kg.

Tỷ lệ đầu và thân khá cân đối, nếu các bạn quan sát kỹ chúng ta sẽ thấy đầu chúng khá dẹt và có hộp sọ rất cứng có những chiếc vay cực kì sắc, nếu như trong quá trình làm thịt không cẩn thận có thể gây đứt tay. Miệng của chúng rộng, môi khá dày và trề, hàm dưới dài hơn so với hàm trên và có xu hướng hếch lên, đây là đặc điểm dễ nhận dạng nhất của cá mú.

Chúng có thân hình khá đầy và phần lưng hơi cong tạo thành một dải dài từ đầu đến đôi, đặc biệt là phần vay của chúng rất cứng nếu như bạn chạm vào vây của chúng sẽ có cảm giác các ngón tay dần bị tê buốt.

Toàn bộ cơ thể của chúng sẽ được phủ lên bởi một lớp vảy rất nhỏ nhưng chúng lại vô cùng cứng, cơ thể của chúng thường có màu nâu sẫm hoặc nâu pha xanh rêu, thân của chúng thường có các hoa văn màu nâu đậm, còn phần bụng lại có màu bạc hơn so với thân.

Cá mú sống ở đâu?

Môi trường sống của các mú vô cùng đa dạng chúng sống ở biển hoặc những khu rừng ngập mặn. Những loại cá mú lớn thường sống xung quanh những rạn san hô và nơi có đá ngầm. Ở Việt Nam cá mú phân bố khá rộng rãi, hầu như chúng được phân bố nhiều ở vịnh Bắc Bộ cho đến cho vực vịnh Thái Lan và nhiều nhất vẫn là ở Bắc Bộ và Trung Bộ.

Cá mú bông – Cá mú nghệ, cá mú giống – Giá 1kg bao nhiêu tiền?

Hiện tại mỗi con cá mú bông tầm 1 đến 2 kg và chúng có giá khá cao là 330.00/kg. Chúng có giá đắt hơn so với các loại cá biển khác vì thịt của chúng ngon và chỉ có ở vùng biển ở Bắc Bộ và Trung Bộ nên giá thành hơi cao so với những loại cá biển khác.

Cá mú nghệ là loại cá mú có kích thước hơn nhất trong họ nhà cá mú chúng có kích thước khi trưởng thành lớn là 50-60kg và trung bình mỗi con thường có cân nặng từ 10 đến 30kg, giá lại cá này đắt nhất trong tất cả các loài cá mú có giá là 420.000/kg.

Hiện tại cá mú giống được bán với giá trung bình khoảng 300.000/kg.

Phân loại cá mú biển

Loài cá mú đỏ có thân hình hơi dẹt đồng thời phần đầu và đuôi sẽ thuôn dài, mõm của chúng khá nhọn, miệng rộng có các răng sắc nhọn. Cá mú đỏ có màu sắc đặc trung là màu đỏ pha lẫn với các đốm trắng.

Phần ngực và mang có vay mềm chúng có chiều dài khi trưởng thành khoảng 30cm loại cá này cũng là một trong những loại cá mú khá hiếm và có giá trị đắt hơn so với cá mú bông.

Cá mú bông hay còn được gọi là cá mú đen chúng có trọng lượng trung bình từ 1 đến 3 kg và con lớn tầm 5 đến 6kg chiều dài trung bình thường là 50cm những con lớn sẽ có kích thước từ 1,2m. Toàn bộ thân hình của chúng có màu đen có nhiều vạch ngang màu nâu và những đốm chấm nâu xám.

Đây là loại cá nhỏ nhất trong dòng cá mú và được đánh giá là loại cá đẹp nhất, chúng óc kích thước chỉ từ 15 đến 30cm mà thôi và con nặng nhất chỉ nằm ở tầm 1kg. Chúng được phân bố nhiều ở vùng biển Bắc Bộ. Loài cá này cũng thường được dùng để làm cá cảnh bởi vẻ ngoài rất đẹp.

Chúng là dòng cá có giá trị cao, bao gồm nhiều sao xanh, sao đỏ và vàng ở phần trên. có hình dáng thuôn dài và cân nặng trung bình từ 1 đến 3kg chúng tập trung nhiều ở vịnh Bắc Bộ.

Cá mú mặt quỷ

Chắc hẳn loại cá này khá xa lạ bởi vẻ bề ngoài kì dị. Chúng thường xuất hiện ở vùng biển Quảng Ninh. Có phần đầu gồ ghề và xù xì trông rất giống mặt quỷ.

Các món ngon từ cá mú

Cá mú thường sử dụng để hấp chung với nhiều nguyên liệu khác nhau, chúng ta có thể hấp chung với xì hầu hoặc hành. Khi hấp chung với hành bạn cần chuẩn bị cá mú, hành tây, hành lá và các loại gia vị cùng với nấm hương. Sau đó làm sạch cá và ướp những nguyên liệu trên và cho vào bụng cá, bạn nên đem hấp cách thủy trong vòng 30 đến 35 phút và để lửa nhỏ vừa phải.

Đây cũng là một trong những cách chế biến cá mú ngon nhất, bạn cần chuẩn bị cá mú, dưa muối chua cùng với nước mấu, gia vị. Sau khi làm sạch cá bạn chỉ cần ướp chung chúng với cá sau đó om trong vòng 40 phút và đem ra thưởng thức, đảm bảo rất ngon và thơm

Nếu như bạn là người thích thưởng thức cá mú với hương vị đậm đà thì không thể bỏ qua món ăn này. Bạn chuẩn bị cá mú cùng với mua chua, có thể thay thế bằng quả sấu và riềng, ướt, nước mắm, gia vị.

Cá mú sau khi làm sạch bạn đem ướp chung với những gia vị này trong vòng 30 phút để nguyên liệu ngấm vào cá, sau đó bạn thêm nước và kho thật nhỏ lửa trong vòng 1 tiếng. Món cá mú kho tộ này nếu dùng chung với cơm trắng thì đảm bảo rất tuyệt vời.

Cá mú có thể đem nước sả ướt sẽ trở thành món nhậu lí tưởng. Bạn chuẩn bị cá mú hơn 1kg, cùng với sả và ớt bằm nhỏ, bột nêm và dầu ăn. Tất cả nguyên liệu đem ướp chung với cá mú một lượng vừa đủ sau đó nước bằng cách quấn giấy bạc xung quanh hoặc nướng than thì đảm bảo rất tuyệt vời.

【#8】Kỹ Thuật Ương Cá Trắm Cỏ Giống

Sau thời gian ương hết giai đoạn 1; cá đã đạt tiêu chuẩn cá hương, ta tiến hành các công đoạn san cá ra các ao để ương nuôi tiếp giai đoạn từ cá hương lên cá giống; giai đoạn cá giống được phân thành nhiều giai đoạn lớn nhỏ khác nhau căn cứ vào kích thước chiều dài cá thể (tính bằng cm) để phân chia các giai đoạn như: giống cấp 1, giống cấp 2 và giống cấp 3; mỗi giai đoạn như thế có những biện pháp kỹ thuật nuôi cụ thể. Trong ương san cá giống giai đoạn ương từ cá hương lên cá giống gọi là giai đoạn 2. Các bước kỹ thuật tiến hành để thực hiện giai đoạn này như sau:

Chọn ao ương tốt nhất là hình chữ nhật, ao ương cá từ cá hương lên cá giống có diện tích từ 300-500m 2; nhưng diện tích ao ương cá giống thích hợp nhất từ 1.000-2.000m 2, mức nước trong ao từ 1,2-1,5m. Chất đáy ao là đất cát hoặc pha cát; độ dày bùn đáy từ 10-15cm, nhưng không có bùn đáy ao càng tốt vì ao nuôi cá trắm cỏ giống không yêu cầu phải gây màu nước như ương cá mè trắng. Ao ương gần nguồn nước, nguồn nước cấp cho ao ương phải đảm bảo là nguồn nước sạch, đảm bảo đạt các yếu tố về môi trường;

Trước khi san cá hương sang ao để nuôi lên giống khoảng từ 5-7 ngày tiến hành các bước như tháo cạn nước ao, tát gạn, bắt hết cá tạp, vét bớt lớp bùn đáy, đảm bảo lớp bùn đáy ao; nếu để lớp bùn đáy quá dày dẫn đến hiện tượng các chất dinh dưỡng trong ao ương dễ bị lớp bùn đáy hấp thụ do vậy những ao có lớp bùn đáy quá dày thường gây màu nước là thức ăn tự nhiên của cá rất khó; sau đó san đáy ao cho phẳng có độ dốc đáy ao thoải dần về phía cống thoát; dùng vôi (CaO; Ca(OH2…) tẩy ao với lượng 10-15 kg/100m 2 để tẩy độc cho ao và khử chua; mức độ sử dụng vôi cho từng ao phụ thuộc vào độ pH của ao, sau đó phơi đáy ao khoảng 3-5 ngày. Cấp nước vào ao ương trước khi thả cá hương, tuy nhiên đối với ao ương cá hương cấp nước vào ao trước 5-10 ngày vẫn có thể thả cá được, không phải tát gạn làm lại ao như giai đoạn ao ương từ bột lên hương; nhưng rất khoát phải quản lý tốt môi trường ao nuôi không để ếch, nhái sinh sản trong ao ương. Nước cấp vào ao phải qua lọc để tránh sinh vật có hại và các loại cá khác vào ao sẽ cạnh tranh thức. Ao ương cá giống trắm cỏ không phải bón các loại phân để gây màu nước; vì vậy có thể cấp đủ mức nước ao ngay từ đầu sau đó thả cá vào ao ương.

Sau khi ao ương có độ sâu mực nước đạt 0,8-1,0m thì thả cá hương, trong suốt quá trình ương nuôi duy trì mức nước 1,2-1,5m. Thời gian thả cá hương tốt nhất vào lúc trời mát trong ngày, buổi sáng từ 7-9 h và buổi chiều tối từ 18-20 h. Khi thả cá nên chọn vị trí như nơi đầu hướng gió, nơi cấp nước hoặc điểm nước sâu và đáy ao ít bùn nhất. Trước khi thả cá chú ý cân bằng nhiệt độ trong và ngoài bao chứa cá để tránh hiện tượng cá bị sốc nhiệt dẫn đến cá yếu và chết bằng cách ngâm bao cá trong ao ương 10-15 phút sau đó mở bao túi cho nước từ từ váo túi, mở miệng túi dần dần, quan sát hoạt động của cá trong bao chứa trước khi thả cá ra ao ương.

Cá hương phải đảm bảo đạt tiêu chuẩn về kích thước cá thể cũng như khối lượng; cỡ cá phải đồng đều, thân hình cân đối, không bị dị hình, dị dạng; cá có màu xanh sẫm, vây, vẩy hoàn chỉnh không bị sây sát và mất nhớt; cá bơi lội, hoạt động nhanh nhẹn, có phản xạ tốt với tiếng động; có thể cho một số cá ra thau quan sát thấy cá bơi thành đàn, vòng tròn quanh thau là đạt. Trước khi đưa cá về ao ương sử dụng muối ăn hoặc thuốc tím để tắm cho cá với liều lượng: nước muối 2-3%, thời gian 3-5 phút hoặc sử dụng thuốc tím (KMnO4) với liều lượng 1g thuốc hòa trong 50-100 lít nước, thời gian tắm 10-12 phút để cá chóng lành các vết thương, loại bỏ các loại ký sinh trùng bám trên cơ thể cá. Sau khi tắm xong cho cá, cho cá về ao ương nuôi phải thao tác nhẹ nhàng, nhanh chóng.

Sau 2-3 ngày nuôi chú ý đến mức độ sử dụng thức ăn của cá nhất là thức ăn xanh (bèo tấm) để cung cấp thức ăn hằng ngày cho phù hợp.

Đặc điểm dinh dưỡng của giai đoạn này là cá sử dụng thức ăn xanh (chủ yếu là bèo tấm); sau đó là các loại rong (thực vật thủy sinh thượng đẳng) hoặc các loại lá xanh trên cạn, các loại cỏ. Các loại thức ăn xanh này (ngoài bèo tấm) phải được thái nhỏ vừa cỡ mồi cá mới sử dụng được. Ở giai đoạn này cá trắm cỏ có hiện tượng sinh trưởng không đều, đặc biệt là trong môi trường ao nuôi thiếu thức ăn. Vì vậy khi cá đã sử dụng tốt thức ăn xanh thì cho cá ăn thỏa mãn trong ngày; theo dõi thức ăn xanh trong ao nuôi từ khi cho thức ăn xanh cho đến sáng hôm sau lượng thức ăn xanh trong ao hết hoặc còn một ít là đạt; tốt nhất cho thức ăn xanh vào khung chứa thức ăn.

Chủ động thức ăn xanh bằng cách ương nuôi bèo tấm: Chủ động thức ăn xanh cho cá rất quan trọng; ngoài việc tìm kiếm nguồn thức ăn xanh có sẵn ngoài tự nhiên người nuôi cá phải tạo nguồn thức ăn bằng cách nuôi bèo tấm như: Chọn diện tích ao vừa phải 100-200m 2, mặt ao có độ che phủ tốt của bóng cây, ao không cần nguồn nước lưu thông (ao tù); thả một lượng bèo tấm làm giống khoảng 1/3-1/4 diện tích ao; bổ sung thức ăn cho bèo bằng đạm vô cơ hoặc Kali (thay bằng tro bếp). Khi bèo sinh sản phủ kín mặt ao thì thu hoạch dần cho cá ăn;

Bảng sử dụng thức ăn cho cá trắm cỏ: Tính cho 10.000 con

Hàng ngày phải kiểm tra tình hình sử dụng thức ăn xanh và thức ăn tinh của cá để điều chỉnh cho hợp lý. Khi cá sử dụng hết thức ăn thì ngày hôm sau phải tăng thêm. Cá sử dụng thức ăn này nhiều hơn thức ăn khác, ngày hôm sau phải thêm bớt cho phù hợp. Nếu các loại thức ăn đều không sử dụng hết thì số lượng quá nhiều hoặc cá có hiện tượng không bình thường phải kịp thời tìm hiểu nguyên nhân để giải quyết. Giai đoạn này sinh vật phù du vẫn có vai trò trong khẩu phần ăn của cá nhưng đóng vai trò thứ yếu.

Quản lý ao ương: Yếu tố môi trường và địch hại là hai yếu tố quyết định đến tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng, phát triển của cá do đó người nuôi cá phải thường xuyên thăm ao nhất là buổi sáng sớm; nếu thấy cá nổi đầu buổi sáng từ 5-7 giờ khi mặt trời chưa mọc đó là hiện tượng tốt, nhưng khi cá nổi đầu quá lâu đến 9-10 giờ sáng không lặn điều đó chứng tỏ rằng trong môi trường nước ao không đủ hàm lượng ôxy cho cá hô hấp hoặc chất lượng nước không tốt phải kịp thời xử lý. Vì vậy phải định kỳ bổ sung cấp nước mới vào ao ương, khi cấp nước vào ao phải qua lọc để tránh địch hại và các loại cá khác vào ao và thực hiện các biện pháp phòng trừ dịch bệnh tổng hợp.

Ghi chép đầy đủ các chỉ tiêu, theo dõi trong nhật ký quá trình ương nuôi cá như: Môi trường ao nuôi; tình trạng sức khỏe, hoạt động của cá; thức ăn; thuốc, chế phẩm sinh học sử dụng; thời gian bổ sung hoặc cấp nước mới vào ao ương; từ 5-10 ngày kiểm tra tốc độ sinh trưởng của cá một lần để biết được chất lượng, số lượng thức ăn, tình trạng sức khỏe của cá và điều kiện môi trường ao ương để điều chỉnh cho phù hợp;

Phân tích số liệu kỹ thuật dựa trên nhật ký nuôi cá để có các giải pháp xử lý kịp thời trong quá trình ương nuôi cũng như đúc rút kết kinh nghiệm cho vụ ương nuôi kế tiếp;

Tổng hợp kết quả tỷ lệ sống ao ương sau một đợt ương nuôi để đánh giá các định mức kỹ thuật, chi phí giá thành và hiệu quả kinh tế.

Sau thời gian ương nuôi 25-30 ngày, cá đạt kích cỡ 4-6cm thì thu hoạch; có thể bán hoặc san sang ao khác để đảm bảo đủ mật độ nuôi đến khi cá đạt kích thước 12-15cm/con.Trước khi thu hoạch, phải quấy dẻo, luyện ép cho cá trước 2-3 ngày; trước khi luyện ép không cho cá ăn thức xanh và cả thức ăn tinh; khi luyện ép cá dùng lưới mềm kéo dồn cá từ từ 2/3 ao; 1/2 ao và 1/3 ao; thời gian một lần luyện ép cá ngày đầu, lần đầu 30 phút và tăng dần thời gian luyện ép cá của những ngày sau. Khi thu hoạch cá giống dùng lưới sợi mềm để kéo cá; các thao tác làm phải nhanh nhưng nhẹ nhàng, khéo léo tránh làm xây xước cá.

【#9】Tổng Hợp Các Giống Cỏ Nuôi Các Trắm Cỏ

Các loại cỏ được nuôi các với những đặc điểm như thân mềm không lông, lưu gốc lâu năm, chịu hạn tốt với khí hậu khắc nghiệt. Các loại cỏ được trồng trên các loại đất như đất pha cát, đất chua phèn, đất đồi núi, đất đỏ ba gian…

Phương pháp cho cá trắm cỏ ăn: Thức ăn đưa xuống thành nhiều đợt để tất cả cá đều được ăn; Quan sát hoạt động bắt mồi của cá, theo dõi mức tiêu thụ thức ăn để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp; Hàng ngày vớt thức ăn thừa trước khi cho thức ăn mới.

Cỏ chịu ngập Ubon Paspalum có nguồn gốc từ Bắc Brazil, Argentina. Cỏ mọc thành từng bụi, đẻ nhánh, thân cây to khỏe, cao từ 1 – 1,5m, lá mềm, có vị ngon, phiến lá dài khoảng 50cm, rộng 3 – 4cm, có lông nhỏ, thời gian lưu gốc từ 3 – 4 năm. Ưu điểm lớn nhất của giống cỏ Ubon Paspalum là: Chịu được ngập úng, chịu được thời tiết giá lạnh, có thể sinh trưởng tốt dưới bóng râm và chứa hàm lượng dinh dưỡng cao.

Cỏ chịu lạnh Mulato 2 còn có tên khoa học là Brachiaria Ruziziensis, được nhập khẩu từ Thái Lan, là cây thân bụi, rễ chùm, mỗi cây cao từ 1m đến 1,3m, thân và lá mềm, dễ tiêu hóa và có nhiều ưu điểm như: Tốc độ sinh trưởng nhanh, năng suất cao và hàm lượng dinh dưỡng lớn, không kén đất, có khả năng chịu lạnh rất tốt.

III/ CỎ ALFALFA

Cỏ Alfalfa( tên khoa học là Lucern ) hay còn gọi cỏ linh lăng, Mộc Túc Braxin, Cỏ Ba Lá, cỏ linh lăng là giống cây họ đậu có giá trị dinh dưỡng rất cao, được dùng làm thức ăn cho gia súc, gia cầm, thủy sản….Trong cỏ Alfalfa có đầy đủ các thành phần như: Acid amin, vitamin, protein, betacaroten, acid hữu cơ, ancaloid, các yếu tố vi lượng… Tất cả 12 Acid amin không thay thế được đều có hàm lượng khá cao trong đó đặc biệt Betacaroten đạt hàm lượng kỷ lục là 94,6 ppm Các yếu tố vi lượng tự nhiên bảo đảm cho các vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng kháng bệnh mạnh, không có các phản ứng phụ.

Cỏ Ghinê có nhiều đặc tính quý : sinh trưởng mạnh, năng suất cao, khả năng chịu hạn, chịu nóng và chịu bóng cây tốt, dễ trồng. Cỏ Ghinê sống được trên nhiều loại đất khác nhau nhưng tốt nhất là loại đất phù sa và đất có nhiều mầu. Chịu được đất mặn nhẹ và không chịu được đất ẩm kéo dài

Do cỏ Ghinê có khả năng chịu được hạn và bóng râm, nên có thể trồng xen với cây lâm nghiệp hoặc cây ăn quả, trồng ven bờ đê, ven đường, xung quanh ao cá, vừa phủ đất chống xói mòn và giữ ẩm, vừa tận thu chất xanh cho chăn nuôi dê rất tốt

Giống cỏ Stylo là dòng cao lương họ đậu, có nguồn gốc từ Nam Mỹ. Cỏ được trồng làm thức ăn cho gia súc ở nhiều địa phương trên cả nước. Cỏ Stylo là nguồn thức ăn tươi xanh giầu đạm để bổ sung và nâng cao chất lượng khẩu phần thức ăn cho gia súc nhai lại. Cỏ Stylo có thể sử dụng cho gia súc ăn tươi trộn với cỏ họ hoà thảo hoặc phụ phẩm nông nghiệp và có thể dự trữ ở dạng khô, bột (cho gia cầm, lợn) hoặc ủ chua làm nguồn thức ăn bổ sung đạm cho gia súc nhai lại.

Bạn muốn ĐẶT MUA NGAY sản phẩm Tiendat123 hoặc muốn được TƯ VẤN rõ hơn về sản phẩm trước khi mua hàng, hãy vào số hotline của chúng tôi hoặc để lại thông tin bên dưới

HƯỚNG DẪN ĐẶT HÀNG VÀ THANH TOÁN

Có 2 hình thức thanh toán

Hình thức 1

– Hãy vào số hotline của Tiendat123 để được tư vấn chi tiết về các loại giống cỏ thích hợp. hoặc để lại thông tin bên dưới. Chúng tôi sẽ gọi lại bạn hoàn toàn chỉ sau ít phút.

Gởi bưu điện toàn quốc bằng dịch vụ COD. Nhận hàng thanh toán cho nhân viên bưu điện thu hộ

THÔNG TIN CHUYỂN KHOẢN

Chủ Tài Khoản : Ông Nguyễn Văn Vinh

Số Tài Khoản : 4900205217801

Ngân hàng Aribank Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Huyện Thuận Bắc Tỉnh Ninh Thuận

Điện thoại: 093 889 7099

【#10】Giá Cá Trắm Đen, Cá Trắm Cỏ Giống. Trang Trại Bán Cá Trắm Giống Uy Tín

1. Giá cá trắm đen giống

Các trắm đen hay còn gọi là cá trắm ốc có đặc điểm là toàn thân mình có màu sậm đen, nhất là phần đầu và lưng. Trong chăn nuôi thì cá thường có trọng lượng cỡ 2 đến 4kg. Với trong điều kiện chăn nuôi tốt thì sau 1 nắm cá có thể đạt kích cỡ 0,5kg/con. Sau 3 năm thành thục cá bắt đầu đẻ trứng.

Thức ăn của cá trắm đen khi còn nhỏ là động vật phù du, ấu trùng chuồn chuồn và muỗi. Khi trưởng thành chúng có thể tiêu hóa được cả ốc, hến, trai, sò nhỏ hoặc trái cây. Do nguồn thức ăn đa dạng nên nhiều hộ chăn nuôi đã lựa chọn loại cá này nuôi thương phẩm tiết kiệm chi phí thức ăn hơn vì nguồn thức ăn luôn dồi dào.

Giá cá trắm đen giống được bán thường là:

  • Loại từ 10 – 20 con/1kg – giá 15.000 – 17.000 VNĐ/con
  • Loại 4 – 5 con/1kg giá khoảng 20.000 – 25.000 VNĐ/con

2. Giá cá trắm cỏ giống

Cá trắm cỏ cũng được nuôi rất phổ biến vì thịt ngọt, nguồn thức ăn lại là cỏ nên khá rẻ và dễ kiếm, bà con có thể tự sản xuất tự cung cấp được.

Cá trắm cỏ có thân hình trắng, đầu thon nhỏ, thường có kích cỡ từ 0,8 -1.2kg/con sau nuôi 1 năm. Nuôi từ 2 năm trở lên đạt 2,5kg/con hoặc cao hơn nữa. Ngoài tự nhiên khi môi trường thuận lợi thì có trường hợp bắt được cá trắm cỏ nặng tới 12kg/con.

Giá cá trắm cỏ bà con có thể tham khảo như sau:

  • Hương: loại 4000 con/1kg – giá 300.000 VNĐ/1kg
  • Giống: loại 100 con/1kg – giá 80.000 VNĐ/1kg

Các trang trại bán cá trắm giống uy tín

1. Hợp tác xã Quang Húc

2. Trại cá giống Yến Hợp

Trại cá giống Yến Hợp là cơ sở cung cấp rất nhiều cá giống các loại như cá trắm đen, trắm cỏ, chép, rô phi, cá nheo… do chuyên về cá giống nên cơ sở đảm bảo cá được ương và nuôi đúng kỹ thuật, đảm bảo sạch bệnh và lớn nhanh.

Liên hê:

Địa chỉ: Cửa hàng Yến Hợp, Cổng viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1, Từ Sơn, Bắc Ninh

Điện thoại: 0976 484 409 – Chị Yến hoặc 0904 642 128 – Anh Hợp

Trung tấm giống và dịch vụ nghề cá Thái Sơn là cơ sở tin cậy để bà con mua các loại cá giống, cá trắm cỏ, trắm đen đủ loại kích cỡ từ cá bột, cá hương với cá cả cạnh tranh nhất miền bắc.

Trung tâm đảm bảo vận chuyển tận nơi cho khách hàng và phổ biến kỹ thuật thả, nuôi khi mới thả cho bà con nắm bắt và hỗ trợ tư vấn trong suốt quá trình nuôi.

Liên hệ:

Địa chỉ: Lai Tê, Trung Chính, Lương Tài, Bắc Ninh

Điện thoại: 0986 29 49 69

4. HTX Nông nghiệp và thủy sản Cản Hưng

Với lợi thế gần sống đuống, HTX Cảnh Hưng đã sử dụng diện tích đất bãi ven sông để trồng cỏ nuôi cá trắm cỏ.

Cơ sở chuyên cung cấp cá Trắm cỏ giống và cá Chép lai 3 máu với các mẫu từ 50 con/1kg đến 2 con/1kg. Cá giống được chăm sóc cẩn thận, phòng và trị bệnh hiệu quả nên kích thước vô cùng đồng đều, có sức khỏe tốt khi đến tay bà con chăn nuôi.

Liên hệ:

Địa chỉ: Thôn Rền – Cảnh Hưng – Tiên Du – Bắc Ninh

Điện thoại: 0988177509

Website: http://www.canhhung.com

5. Trại nguồn giống Hà Nội

Cá giống nước ngọt là lợi thế thế của trại nguồn giống Hà Nội. Tại đây khách hàng có thể chọn rất nhiều loại cá giống khác nhau, cung cấp sỉ lẻ giá cả hợp lý cạnh tranh. Bàn con mới nuôi sẽ được hỗ trợ kỹ thuật nuôi, vận chuyển và đánh bắt cá sao cho hiệu quả nhất.

Liên hệ:

Địa chỉ: 57 Lĩnh Nam (gần Time City và chợ Mai Động), Hoàng Mai, Hà Nội.

Điện thoại: 0961682686

Lưu ý khi chọn mua cá trắm giống!

Đối với cá giống nói chung và cá trắm giống nói riêng bà con không nên chọn con giống quá nhỏ vì sức sống kém. Tốt nhất nên chọn cá giống hương vì chúng có thể ăn khỏe hơn, sống tốt và sinh trưởng nhanh, giảm rủi ro thất thoát con giống dẫn đến lãng phí. Quan trọng hơn cả là chọn địa chỉ bán cá giống uy tín, trách nhiệm để học hỏi kinh nghiệm từ khi nuôi đến khi thu hoạch.

Chúc bà con sớm hoàn thành mô hình nuôi cá trắm thành công!

Theo chúng tôi