Cá Rồng Royal Red Là Gì

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề Cá Rồng Royal Red Là Gì xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 27/01/2021 trên website Lumiaappcampuschallenge.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung Cá Rồng Royal Red Là Gì để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, chủ đề này đã đạt được 1.188 lượt xem.

Có 7 tin bài trong chủ đề【Cá Rồng Royal Red Là Gì】

【#1】Tổng Hợp, Phân Loại Cá Betta Rồng, Cá Sim Cảnh

Tổng hợp, Phân loại cá betta rồng, cá sim cảnh, Betta Dragon (Cá mang vảy rồng) được phát triển lai tạo rất đa dạng về hình dạng và màu sắc, một số màu sắc của dòng Betta Dragon này mà chúng ta hay gặp

+ Beta Rồng đỏ (Red Dragon)

Thân cá có các lớp sắc tố màu trắng đục phủ rất dày bao phủ kín thân và nắp mang có khi lên trên đầu (full), một số có ánh kim làm nổi bật nền trắng của cá. Các vây lưng, vây đuôi, vây hậu môn (có khi lên tới vây bơi) đều có màu đỏ với các màng chia đuôi màu trắng ánh kim. 1 con rồng đỏ đẹp khi các vây của cá mang 1 màu đều như nhau và tách biệt rõ với màu thân cá.

+ Rồng đỏ viền bướm (Red Dragon Butterfly)

+ Rồng cam (Orange Dragon)

Cũng giống như rồng đỏ, cá rồng cam cũng có các lớp trắng phủ trên thân và vây bơi màu cam, tuy nhiên do đây là giống rất mới, các nhà lai tạo đang trong quá trình làm ổn định màu cam nên 1 con rồng cam xuất sắc hiện vẫn còn là mơ ước.

+ Beta Rồng vàng (Gold Dragon)

Rồng vàng căn bản được tạo thành 1 cách nhanh chóng nhờ gen nr (gen mất đỏ) xuất hiện đồng hợp lặn trong 1 con cá betta rồng đỏ, người ta có thể tiến hành lai tạo betta rồng đỏ bằng nhiều cách từ những chú betta rồng có sẵn. Cá betta rồng vàng có màu thân vàng và lớp vảy trắng đục hay trắng ánh kim rất đẹp, riêng betta rồng vàng và rồng trắng có bộ vây cùng màu sắc với thân, ở đây cá betta rồng vàng có vây lưng ,đuôi,vây bụng,ngực và vây hậu môn màu vàng

+ Rồng màu thân dứa (Pineapple Dragon)

Đây cũng là 1 dạng của Betta rồng vàng nhưng thân vẫn còn nhiễm đen như mắc dứa, nếu lớp vẩy cá dày lên (lớp trắng) thì chúng ta rất khó phân biệt với rồng vàng tuy nhiên đặc điểm nhận dạng dễ dàng nhất vẫn là thân sậm đen ở bụng.

+ Rồng trắng (White Dragon)

Cách sắp xếp sắc tố như rồng đỏ và rồng vàng nhưng khác nhau bởi màu sắc của các vây và kỳ. Các vây lưng, vây đuôi và vây hậu môn mang màu trắng.

+ Rồng đen (Black Dragon)

Một giống rồng đang rất “hot” rất được nhiều người săn tìm bởi nét đẹp “lạnh lùng” nhưng sang trọng của nó. Thân cá có các lớp sắc tố màu trắng đục phủ rất dày bao phủ kín thân và nắp mang có khi lên trên đầu (full), và trên lớp trắng đó là 1 lớp ánh kim dày màu tối, đó là nền của màu Black Copper.Điểm khác biệt lớn của rồng đen hiện tại là các vây lưng, vây đuôi, vây hậu môn đều có màu đen với các màng chia đuôi mang màu sắc của thân cá. 1 con rồng đen đẹp khi các vây của cá mang 1 màu đen đều như nhau và tách biệt rõ với màu thân cá.

+ Cá Beta Rồng xanh (Green hay Blue Dragon)

Cách phân bố màu sắc cũng như rồng đỏ và các loại khác tuy nhiên trên thân cá phía trên lớp trắng đục rất dày lại phủ lên thêm 1 lớp ánh kim : màu green, turquoise, steel, royal blue… làm cho rồng xanh thêm nét quyến rũ.Các tia vây màu đỏ nằm xen lẫn các màng vâyi màu xanh ngọc tạo nên sự hài hòa và tăng thêm nét độc đáo của nó. Một số con có lớp ánh kim dày phủ lên cả mắt nhìn rất đẹp.

+ Beta Rồng xanh dương viền đen (Black Lace Dragon)

Đây là một trong những chú cá tham gia trong quá trình tạo ra rồng đen, Rồng Black lace có thân màu Blue nằm trên lớp trắng đục dưới vảy và nền đen căn bản của dòng Black Lace, các vây cá viền đen đậm xung quanh các tia vây màu blue

+ Rồng ánh đồng (Copper Dragon)

Copper Dragon có sự phân bố màu sắc như Black Dragon nhưng thay vào đó các sắc tố đen ở vây và thân sẽ mang màu đỏ sậm.

+ Rồng ánh đồng hơi mù tạc (Copper Gas Dragon)

Một cặp gen nr đã làm thay đổi 1 chú Copper Dragon thành Copper Gas Dragon, thay vì màu đỏ của vây với các tia vây màu copper thì chú cá này mang màu vàng của màng vây và tia vây mang màu copper

+ Rồng hơi mù tạc (Mustard Gas Dragon)

Gen Mustard Gas tái tổ hợp lặn trong cơ thể 1 con cá Betta rồng làm cho nó có màu Mustard Gas và mang vảy rồng. Lớp sắc tố màu Blue (hay Green) phủ trên lớp trắng dày trên thân và các màng vây màu vàng làm cho nó có sự tương phản rõ rệt.

Nguồn betta.ketviet


【#2】Thuật Ngữ Về Cá Rồng

Xback/crossback golden arowana (过背 金龙) = quá bối kim long (loài kim long nguồn gốc ở Malaysia)

– Blue based (蓝底)/Electric blue (靛蓝)/Bukit Merah Blue/Royal Blue/Emerald Blue (DFI) = lam để (nền lam)/điện lam (Qianhu) (quá bối nền lam)

– Golden based/Premium high gold (Qian Hu)/Pahang gold (DFI) (金底) = kim để (nền vàng) (quá bối nền vàng)

– Golden head (金头) = kim đầu (đầu vàng)

– Platinum (白金) = bạch kim (quá bối bạch kim)

– Purple based/Sapphire (DFI) (紫蓝底) = tử lam để (nền tím) (nền tím là một biến thể của nền lam, sapphire crossback)

– Super grade/super high (特级) = đặc cấp

Huyết long x thanh long Borneo

– 1.5/2nd red arowana/Banjar red (二号红龙) = nhị hiệu hồng long (tức huyết long hạng 2/hồng long/thanh long chỉ vàng/thanh hồng)

Tên “Banjar red” còn được dùng để gọi thanh long Borneo thuần chủng (gồm yellow tail và grey tail).

Quá bối X huyết long

Cá lai tạp giữa quá bối và huyết long với hy vọng đạt được kích thước của huyết long và màu sắc của quá bối.

– Tong Yan (OSBF)/Red Splendour (Qianhu)/Crossback Splendour (OTF) (彤艳) = đồng diễm (tong yan)

– Rose Gold (玫瑰) = mai côi (DFI)

Quá bối x hồng vĩ

– Premium RTG (高级红尾金龙) = cao cấp hồng vĩ kim long (quá bối x hồng vĩ) (OTF)

– Supme RTG (顶级红尾金龙)= đỉnh cấp hồng vĩ kim long (quá bối x Premium RTG) (OTF)

– RTG Splendour (彤艳红尾金龙)= đồng diễm hồng vĩ kim long (đồng diễm x hồng vĩ) (OTF)

African arowana (非洲龙) = phi châu long (tức cá “khổng tượng Phi”)

Arapaima/Pirarucu (象魚) = tượng ngư (tức cá “khổng tượng”)

Black arowana (黑帶龙) = hắc đái long (tức “hắc long”)

– Silver arowana (银帶龙) = ngân đái long (tức “ngân long”)

Fafulong (发福龙)/fulong/king arowana (龙王) : phát phúc long/phúc long/long vương (cá bị tật ở xương sống khiến lưng cao gồ lên) (phúc hồng long)

Grand tail (弘鳍) = hoằng kỳ (đuôi to)

Green arowana (青龙) = thanh long

– Indo green/Pino/Kuning Banjar = thanh long Borneo (yellow tail hay grey tail)

– Nami green = thanh long Nami (loài thanh long có châu vằn vện ở Malaysia, loài tương tự ở Miến Điện được gọi là Batik).

Northern baramundi/Jardini arowana (珍珠澳洲龙) = trân châu úc châu long (tức “trân châu long”)

– Southern baramundi/Leichardti arowana (星点澳洲龙) = tinh điểm úc châu long (tức “hồng điểm long”)

Redtail golden (红尾金龙) = hồng vĩ kim long (loài kim long nguồn gốc ở Indonesia)

– Highback redtail golden (高背红尾金龙) = cao bối hồng vĩ kim long (tức “cao lưng”)

– Super highback golden (特级) = đặc cấp cao bối hồng vĩ kim long (tức “siêu cao lưng”)

Short body (短身) = đoản thân (cá bị tật xương sống khiến thân rất ngắn)

Spoon head (汤匙头) = thăng thi đầu (đầu muỗng)

– Bullet head (炮弹头) = pháo đạn đầu (đầu đạn)

Tikum Leng/Drawing Cert. Dragon (抽签龙) = trừu thiêm long (cá rồng có giấy chứng nhận)

Yellowtail arowana (黄尾龙) = hoàng vĩ long/hoàng vĩ kim long (tức thanh long Borneo, loài này thường bị nhầm với Banjar red).

Yi Tiao Long (一条龙) = nhất điều long (hàng vảy thứ sáu trên lưng thẳng tắp và liền lạc) (quá bối nhất điều long)

Red/super red arowana = (红龙/一号红龙) = hồng long/nhất hiệu hồng long (tức “huyết long”, còn “hồng long” ở nước ta thường có nghĩa là “huyết long hạng hai” mà màu đỏ không đậm và đẹp bằng huyết long, chẳng hạn như Banjar red).

– Armoured (坦克) = thản khắc (Qianhu) (huyết long thân ngắn, bản rộng, lưng gù)

– Blood red arowana (血红龙) = huyết hồng long ( huyết long nền sẫm)

– Blue based (蓝底) = lam để (nền lam) ( huyết long nền lam)

– Green based (绿底) = lục để (nền lục)/Emerald (绿皮) = lục bì (Qianhu)/Chili (辣椒) = lạt tiêu ( chili red nền lục)

– Violet Fusion (紫艳) = tử diễm (Qianhu) (nền tím là một biến thể của nền lam, tử diễm huyết long)

Xback/crossback golden arowana (过背 金龙) = quá bối kim long (loài kim long nguồn gốc ở Malaysia)

– Blue based (蓝底)/Electric blue (靛蓝)/Bukit Merah Blue/Royal Blue/Emerald Blue (DFI) = lam để (nền lam)/điện lam (Qianhu) ( quá bối nền lam)

– Golden based/Premium high gold (Qian Hu)/Pahang gold (DFI) (金底) = kim để (nền vàng) ( quá bối nền vàng)

– Golden head (金头) = kim đầu ( đầu vàng)

– Platinum (白金) = bạch kim ( quá bối bạch kim)

– Purple based/Sapphire (DFI) (紫蓝底) = tử lam để (nền tím) (nền tím là một biến thể của nền lam, sapphire crossback)

– Super grade/super high (特级) = đặc cấp

Huyết long x thanh long Borneo

– 1.5/2nd red arowana/Banjar red (二号红龙) = nhị hiệu hồng long (tức huyết long hạng 2/ hồng long/thanh long chỉ vàng/thanh hồng)

Tên “Banjar red” còn được dùng để gọi thanh long Borneo thuần chủng (gồm yellow tail và grey tail).

Quá bối X huyết long

Cá lai tạp giữa quá bối và huyết long với hy vọng đạt được kích thước của huyết long và màu sắc của quá bối.

– Tong Yan (OSBF)/Red Splendour (Qianhu)/Crossback Splendour (OTF) (彤艳) = đồng diễm ( tong yan)

– Rose Gold (玫瑰) = mai côi (DFI)

Quá bối x hồng vĩ

– Premium RTG (高级红尾金龙) = cao cấp hồng vĩ kim long (quá bối x hồng vĩ) (OTF)

– Supme RTG (顶级红尾金龙)= đỉnh cấp hồng vĩ kim long (quá bối x Premium RTG) (OTF)

– RTG Splendour (彤艳红尾金龙)= đồng diễm hồng vĩ kim long (đồng diễm x hồng vĩ) (OTF)

African arowana (非洲龙) = phi châu long (tức cá ” khổng tượng Phi”)

Arapaima/Pirarucu (象魚) = tượng ngư (tức cá ” khổng tượng”)

Black arowana (黑帶龙) = hắc đái long (tức ” hắc long”)

– Silver arowana (银帶龙) = ngân đái long (tức ” ngân long”)

Fafulong (发福龙)/fulong/king arowana (龙王) : phát phúc long/phúc long/long vương (cá bị tật ở xương sống khiến lưng cao gồ lên) ( phúc hồng long)

Grand tail (弘鳍) = hoằng kỳ ( đuôi to)

Green arowana (青龙) = thanh long

– Indo green/Pino/Kuning Banjar = thanh long Borneo ( yellow tail hay grey tail)

– Nami green = thanh long Nami (loài thanh long có châu vằn vện ở Malaysia, loài tương tự ở Miến Điện được gọi là Batik).

Northern baramundi/Jardini arowana (珍珠澳洲龙) = trân châu úc châu long (tức ” trân châu long”)

– Southern baramundi/Leichardti arowana (星点澳洲龙) = tinh điểm úc châu long (tức ” hồng điểm long”)

Redtail golden (红尾金龙) = hồng vĩ kim long (loài kim long nguồn gốc ở Indonesia)

– Highback redtail golden (高背红尾金龙) = cao bối hồng vĩ kim long (tức ” cao lưng”)

– Super highback golden (特级) = đặc cấp cao bối hồng vĩ kim long (tức “siêu cao lưng”)

Short body (短身) = đoản thân (cá bị tật xương sống khiến thân rất ngắn)

Spoon head (汤匙头) = thăng thi đầu ( đầu muỗng)

– Bullet head (炮弹头) = pháo đạn đầu ( đầu đạn)

Tikum Leng/Drawing Cert. Dragon (抽签龙) = trừu thiêm long (cá rồng có giấy chứng nhận)

Yellowtail arowana (黄尾龙) = hoàng vĩ long/hoàng vĩ kim long (tức thanh long Borneo, loài này thường bị nhầm với Banjar red).

Yi Tiao Long (一条龙) = nhất điều long (hàng vảy thứ sáu trên lưng thẳng tắp và liền lạc) ( quá bối nhất điều long)

In Áo Nhanh Chất lượng cực đẹp, không bong tróc, bền màu – Chuyên: In áo thun, áo đồng phục, túi, balo,… Xem:


【#3】Phân Loại Cá Rồng (Phần 1)

Bảng phân loại cá rồng

Giới chuyên môn thường phân loại cá rồng theo bảng sau:

CÁ RỒNG CHÂU Á

Cá Rồng Châu Á là loại cá được xếp vào hàng đầu trong thế giới cá cảnh, vì sự ưa chuộng rộng rãi, giá trị cao và vẻ đẹp của nó. Nét độc đáo của hình dạng, miệng rộng và vẩy sáng đã làm cho cá rồng trở nên đặc biệt và đã làm cho bao con tim của những tài tử si mê cá phải rung động. Với nét gần gũi cùng tổ tiên Nhà RỒNG, tất cả các Hoa Kiều trên toàn thế giới đều tin tưởng Cá Rồng là tượng trưng cho sự may mắn, phát tài lộc, và đem lại hạnh phúc do đó cá rồng trở thành con vật được cưng chiều nuôi nấng trong nhà để làm cho Phong Thủy được tốt hơn. Theo tương truyền hồ cá rồng là Phong, Nước hồ là Thủy, Cá Rồng là Tài, ba chữ này hợp lại thành Đại Phúc. Do vậy ngoài việc thưởng thức vẻ đẹp hiếm thấy của cá rồng mà các chủ nhân thường xem cá rồng như là biểu tượng cho sự phú quý của mình, đó là lý do tại sao cá Rồng được ưa chuông nhiều.

Cá Rồng châu Á được chia ra làm 4 loại tùy theo màu sắc tự nhiên khác nhau của từng giống:

  • KIM LONG QÚA BỐI từ Malaysia (Cross Back Golden Malaysia).
  • HUYẾT LONG (Super Red) từ tỉnh West Kalimantan, Indonesia.
  • KIM LONG HỒNG VỸ (Red Tail Golden) từ tỉnh Pekanbaru, Indonesia.
  • THANH LONG (Green Arowana). Riêng giống này có thể tìm thấy ở vài nhánh sông khác tại Malaysia Indonisia, Myanmar và Thái Lan.

Trong những năm qua, vì sự ưa chuộng đại trà và nhu cầu quá cao, cộng với hứa hẹn của siêu lợi nhuận, sự săn bắt tận cùng bừa bải đã đưa số lượng cá rồng gần như tuyệt chủng. Đặc biệt là giống Kim Long Quá Bối và Huyết Long đột nhiên biến mất trong thập niên 80. May mắn thay, cá rồng được bảo vệ bằng cách liệt kê vào hàng động vật có cơ hội tuyệt chủng của CITES (Wild Fauna and Flora) được đăng ký vào hạng mục bảo vệ động vật số 1 (Appendix I CITES). Từ đó những kẻ săn bắt cá rồng mà khô?g có giấy phép sẽ bị truy tố và phạt tiền rất nặng, cho đến hôm nay vẫn còn nhiều quốc gia cấm buôn bán cá rồng như Mỹ và Đài Loan.

A- KIM LONG QUÁ BỐI (Cross Back Golden)

Có nhiều tên cho loại cá này, có người gọi Kim Long Quá Bối, Lưỡi xương rồng Mã Lai (Malayan Bony Tongue), Bukit Merah Xanh (Bukit Merah Blue), Đài Bắc Thanh Hoàng Long (Taipie Blue Golden) và Vàng của Mã (Malaysian? Gold). Tất cả đều cùng loạ: KIM LONG QUÁ BỐI. Cá này khi trưởng thành sẽ có màu suốt qua lưng. Lý do có nhiều tên là vì cá này được tìm thấy tại nhiều nơi trên lãnh thổ Malaysia như Perak, Trengganu, Hồ Bukit Merah và Johor.

Vì lý do nguồn cung ứng thấp, và nhu cầu thì quá cao, cho nên loại cá này thuộc dạng đắt nhất, và yếu tố làm cho giá tăng cao hơn là vì ngoài sự hiếm hoi có sẵn, kỹ thuật ép đẻ thành công cũng thấp. hiện nay các trại cá ở Sing và Mã Lai đang ép giống cá này.

Kim Long Quá Bối còn được phân loại xa hơn tuỳ theo màu của vẩy cá, bao gồm: Nền Xanh, Nền Tím, Nền Vàng, Nền Xanh Lục, và nền Bạc. Từ ngữ Nền Xanh và Nền Tím được dùng lẫn lộn tuỳ theo từng trại cá ép vì dải màu xậm trên sống lưng cá khi nhìn ở góc nghiêng thì có màu xanh dương đậm, nhưng khi nhìn ở một góc độ khác thì thành màu tím sậm. NỀN VÀNG là loại có vẩy màu vàng 24K, óng ánh từ viền vảy vào đến tâm vảy. Thay vì tâm vảy màu xanh hoặc màu tím. Cá nền vàng này qúa bối (màu qua lưng) nhanh nhất so với các loại cá khác. Kim Long Quá Bối có một sắc màu toàn vẹn nhất, khi trưởng thành, toàn thân vàng ửng như 1 thỏi vàng 24K bơi lơ lửng trong hồ. Thỉnh thoảng quay vòng nhẹ nhàng và tự tin trong phong thái VUA của các loài Cá Cảnh. Trong khi các loại cá cũng màu vàng khác không có được sắc màu trời cho này. Dĩ nhiên cũng không quên đề cập tới người anh em Nền Xanh Lục và Nền Bạc có tâm vảy màu xanh lục và màu bạc, tuy nhiên ít được ưa chuộng hơn.

Thật khó khăn khi muốn phân biệt cho thật chính xác vì các trại ép cá thường hay ép giống này lai qua giống khác, không còn thuần chủng như ngày xưa. Tuy nhiên ưu điểm là họ đã sản xuất ra những loại cá mới, lạ và sặc sỡ hơn. Điển hình các loại cá mới như Platium White Golden (Bạch Ngọc/Bạch Kim) và Royal Golden Blue (Hoàng Triều Thanh Long) là giống mới được sản xuất gần đây. Hai loại này hiện đang mang bảng giá cao nhất thế giới, và các Đại Gia Nhật Bản không quản ngại tiền bạc tung ra chỉ để sở hữu 1 chú này (DTV: có 1 chú đã bán ở Nhật với giá 800,000 USD và 1 chú khác giá 280,000 USD ????) và chỉ có ở Malaysia mới sản xuất thành công 2 loại cá trên.

Rồng Đỏ được chia ra làm 4 loại khác nhau: Đỏ Ớt (Chilli Red) Đỏ Huyết (Blood Red), Đỏ Cam (Orange Red) và Đỏ Vàng (24K) (Golden Red). Thời gian gần đây những rồng đỏ này được góp lại và gọi chung cùng tên là Huyết Long (Super Red) hoặc Rồng Đỏ cấp 1 (1st Grade Red). Điều này tạo ra tranh cãi, vì cách áp dụng tên Huyết Long khi loại Đỏ Cam và Đỏ Vàng không đạt được đúng nghĩa của chữ ĐỎ khi so sánh với 2 loại trên, vì chúng chỉ xuất hiện màu vàng da cam hoặc vàng 24K. Dù vậy các trại cá vẫn lạm dụng từ Huyết long để đặt tên chung cho cá ép của trại mình.

Điểm khác biệt khác dễ nhận dạng là Đỏ Ớt có cặp mắt thật to, màu đỏ và đuôi hình Kim Cương (Diamond – shaped tail) – (DTV: Ở VN thì gọi là hình trái đào). Trong khi Đỏ Máu thì có cặp mắt trắng và nhỏ, đuôi thì mở rộng hình cánh quạt (Fan-Shaped Tail). Cặp mắt của Đỏ Ớt rất to và rộ?g, đôi khi to đến độ phần trên gần như đụng đầu và phần dưới gần chạm vào miệng. Phần đuôi của Đỏ Ớt giống như hình viên Kim Cương và mọc dài ra phía sau khi trưởng thành. Mặt khác, Đỏ Máu thì có cặp mắt nhỏ hơn nhiều nhìn vào thấy ?bình thường? hơn và tròn trịa hơn. riêng phần đuôi thì xoè ra như cánh quạt thật đẹp. Những khác biệt này thật rõ ràng kể cả khi cá còn rất bé cũng có thể nhận ra.

Đỏ CAM (Orange Red) Đây là loại cá rất phổ biến trong giới ép cá đẻ vì dễ thành công hơn, loại không phải là loại “Hoá đỏ” (Red-turning type). Khi trưởng thành chú cá này ?trình diễn? vây màu Vàng Cam phủ đầy mình rất rõ khi so sánh với Đỏ Ớt và Đỏ Máu. Sự khác biệt thể hiện rõ hơn khi phần Vi trên + dưới và đuôi cũng không được màu đỏ như 2 loại đàn anh trên.

Đỏ VÀNG (Golden Red) là loại cá rồng cũng thường gặp bên cạnh người anh em Đỏ Cam. Loại này có giá trị thấp nhất trong các loại Rồng Đỏ vì khi trưởng thành, nó chỉ có màu vàng nhạt quanh thân thể, môi và râu cũng không có màu đỏ mà chỉ hơi vàng 1 tí thôi, thật ra có nhiều con thuộc loại này cũng không có màu ở vi và đuôi nữa. Đây là hậu quả của sự ép đẻ khác giống đã cho ra 1 thế hệ có chất lượng nửa vời, chỉ vì sự ép đẻ rất thành công dễ dàng cho những trại cá chủ trương bán rẻ nhưng bán nhiều (số lượng hơn chất lượng !!!!)

Đỏ Xanh Lục (Banjar Red) hoặc còn gọi “Công dân loại 2” (2nd Grade Red) chưa bao giờ chính thức từ giống Huyết Long. Đây cũng lại là một chế tác của các ông lái cá tài tử ép đẻ giữa cá mái Đỏ Xanh Lục, Hồng Vỹ hoặc Thanh Long với Huyết Long đực chính hiệu để tăng năng xuất về cá con. Đôi khi các tay buôn này còn dùng hormones hoặc thuốc kích thích để làm cho các chú cá này nhìn rất là “Đỏ”. Vì vậy khi mua Rồng Đỏ TUYỆT ĐỐI không nên mua loại cá được giới thiệu “Rồng Đỏ tự nhiên” (Wild caught Red Arowana) và khi hỏi có khai sinh thì lại trưng ra KS của CITES (DTV: Tất cả cá rồng không phân biệt loại nào, dù rẻ hay đắt, bán ở tiệm tại các nước Mã, Thái, Indo, Sing đều phải có khai sinh, vì nếu không khi bị bắt sẽ bị phạt rất nặng (động vật quý hiếm có cơ diệt chủng). Cách cuối cùng cho chúng ta nhận biết là nhìn đầu cá thì tròn hơn, miệng không được nhọn, vẩy không sáng, có màu xanh/vàng trên vẩy là đúng loại Banjar Red.

C- KIM LONG HỒNG VỸ (Red Tail Golden)

Được biết đến với tên Kim Long Hồng Vỹ (KLHV) hoặc Kim Long Indo, loại này được xếp hạng chung trong gia đình Kim Long với Kim Long Quá Bối (KLQB), Kim Long Malaysia, giá thành của Kim Long Hồng Vỹ rất ?mềm? so với Kim Long Quá Bối. Lý do là vì KLHV sẽ không bao giờ đạt được màu vàng 24K như KLQB, và màu vàng của KLHV sẽ không bao giờ vượt qua khỏi lưng mà khi trưởng thành luôn luôn có 1 vệt đen lớn kéo dài từ đầu đến đuôi cá. Mặc dù giá trị không cao khi so sánh với ?Cục Vàng Biết Bơi? (KLQB), nhưng đa phần các chú KLHV này sẽ có màu vàng lên đến lớp vảy thứ 4 và có vài chú, choé hơn thì màu vàng lên đến hàng vảy thứ 5. Cũng giống như đồng chí KLQB, KLHV cũng khác loại tuỳ theo màu sắc từng con, như nền xanh, xanh lục và nền vàng. Khi còn bé KLHV không có màu sắc gì hết trong khi KLQB đã thể hiện màu mè rõ ràng, sáng lóng lánh, và màu cũng đã xâm nhập lên hàng vảy thứ 5 rồi.

Nói chung KLHV “lì lợm” hơn so với KLQB, nhanh lớn hơn, và cỡ bự hơn, tuy nhiên Hồng Vỹ thì XUNG hơn KLQB. Thật khó khi nuôi chung trong 1 hồ lớn, thường thì 8-9 con cá nhỏ, trong khi KL Malaysia thì không sao cả, loại này cũng được bảo vệ của CITES, tuy nhiên vẫn bị săn lùng ở nơi thiên nhiên, ngoài ra, các bạn bạn rất giống nhau từ đuôi, Vi, và màu trên miệng của 2 loai KLHV này.

D- THANH LONG (Green Arowana)

Đây cũng là 1 loại trong giòng họ cá rồng, thường tìm thấy ở Thái Lan, Mã Lai, Miến Điện, Indonesia và Campuchia. Vì loại này sống ở nhiều phong thổ khác nhau và rộng rãi như vậy nên hình dạng và màu sắc cũng có thể khác nhau. Hầu hết những loại Thanh Long tìm thấy ở những nơi này có màu xám xanh ở thân mình và đuôi có sọc xanh xám đậm. Hình dáng Thanh long cũng đặc trưng khác thường hơn so với các loại cá rồng khác, đầu và miệng thì tròn và to hơn. Đây là loại cá rẻ tiền nhất trong các loại rồng cùng với loại Đuôi Vàng (Yellow Tail). Tuy nhiên có 1 loại Thanh Long Xanh (có xen lẫn màu tím trên tâmvảy) thì lại được đứng chung hàng với các đàn anh cao quý khác. Thanh Long cùng với Huyết Long ?hạng 2? (2nd Grade Red) được ưa chuộng nhiều nhất ở Thái Lan và Philippines vì giá mềm của nó. Bên cạnh đó, loại này cũng được các chú học trò nhỏ bên Nhật khoái vì vừa túi tiền, có khả năng tậu được, để vừa chiêm ngưỡng vừa tập ép đẻ.

Rất bình thường các chú cá này được hầu hết các tay mới tập chơi cá dùng làm bước khởi đầu cho sự nghiệp chơi cá cảnh sau này vì, vừa rẻ vừa dễ kiếm. Sau đó đã ký cóp 1 ít kinh nghiệm rồi mới bắt đầu chuyển qua KLHV, KLQB hoặc Huyết Long.

CÁ RỒNG ÚC

Tên Khoa Học: Scleropages Jardini, Scleropages Leichardti.

Có 3 loại Rồng Úc: Rồng Châu, Rồng Đốm, và Rồng Đỏ.

Rồng Đốm cũng giống như rồng Châu, ngoại trừ Vi và đuôi đậm màu hơn, còn vảy thì có những đốm tròn nhỏ chứ không có hình lưỡi liềm như loại châu, thỉnh thoảng có những đốm nhỏ màu đỏ trên vảy, loại này cũng không được bảo vệ.

Rồng Đỏ rất hiếm, và là loại cá đẹp nhất của Rồng Úc. Vảy và Vi có màu đỏ nâu đậm với các chấm vàng, còn 1 loại hiếm thấy khác là Châu Vàng có màu vàng sáng (24K gold) hơn những loại rồng Úc khác.

CÁ RỒNG NAM MỸ

A- BẠCH LONG

Tên khoa học: Osteoglossum Bicirrhosum (BDV: Hình như VN gọi là Ngân Long?)

Bạch Long được tìm thấy ở Sông Amazon miền Nam Mỹ. Hình dạng cũng giống Hắc Long ở chỗ đuôi hình nón, vảy và vi có màu bạc, loại này không được bảo vệ. Cùng họ hàng với Bạch Long có 2 loại rất hiếm là Bạch Long Hồng Vỹ (Red-Tail Silver) và Bạch Tuyết Long (Snow Silver).

Bạch Long là loại cá rồng phổ thông mà bạn có thể tìm thấy ở bất cứ tiệm cá cảnh nào tại bất cứ địa phương nào trên trái đất, loại này đứng hàng số 1 trong các loại rồng thuộc giống Osteoglossidae. Giống như Hắc Long, cả 2 đều xuất xứ từ Nam Mỹ, đều có đuôi hình nón, nhưng chỉ khác là màu bạc trắng toàn thân. Bạch Long khi trưởng thành có thể dài đến 90Cm, và là dài nhất trong tất cả các loại cá rồng. Bạch Long nổi tiếng ?nhậu nhẹt vô tư? ăn khỏe và dịu dàng nhất trong các loại cá rồng.

B- HẮC LONG

Tên khoa học: Osteoglossum Ferrerai

Hắc Long cũng xuất xứ từ Nam Mỹ và hình dạng cũng giống Bạch Long ở chỗ đuôi hình nón. Khi còn bé, Hắc Long có Vi và vảy màu đen, với những dọc trắng hoặc vàng trên vi, Nhưng đến khi trưởng thành, Hắc Long sẽ từ từ mất dần màu sắc và trở thành màu xám. Hắc Long có thể dài đến 80 Cm và không có trong danh bạ bảo vệ. Hắc Long khó nuôi hơn Bạch Long. Loại này hơi khó kiếm vì chỉ đẻ theo mùa, trong khi các loại khác thì có thể đẻ quanh năm.

Tên khoa học: Heterotis Niloticus.

Còn có tên Africa Nile Arowana hoặc phổ biến hơn là Rồng Đen Châu Phi (Africa Black Arowana). Loại rồng châu phi này hiếm nhưng không đắt, vì ít có người hoặc chuyên gia cá cảnh thích nuôi vì sự xấu xí của nó so với các loại cá rồng khác.


【#4】Cá Rồng: Loài Cá Từ Huyền Thoại Đến Hiện Thực

Cá rồng là các loài cá nước ngọt sơ khai và không tiến hóa gì nhiều kể từ thời khủng long còn tồn tại trên trái đất! Họ cá rồng Osteoglossidae bao gồm hai chi là Osteoglossum (cá rồng Nam Mỹ) và Scleropages (cá rồng châu Á và châu Úc). Cá rồng có vảy to, thân dẹp và dài, đầu có hình con dao bầu với một cặp râu ở chóp hàm dưới luôn chĩa ra phía trước được cho là có chức năng cảm nhận những biến động trên mặt nước.

Cá rồng thích hợp với môi trường ấm áp, khí hậu nhiệt đới, nhiệt độ từ 23 đến 30 độ C, độ pH 6-7 (6.5 là thích hợp nhất). Cấu trúc miệng của chúng cho thấy chúng là loài săn mồi tầng mặt. Cá rồng là loài cá săn mồi mạnh mẽ và rất hoạt động, chúng có khả năng phóng lên khỏi mặt nước để đớp mồi.

Cá rồng là loài ấp miệng tức là cá đực hay cái sẽ ngậm và ấp trứng đã thụ tinh vào miệng để ấp cho đến khi trứng nở thành cá con. Cá con vẫn có thể quay lại trốn trong miệng cá bố mẹ khi gặp nguy hiểm. Ở cá rồng châu Á và Nam Mỹ, cá đực làm nhiệm vụ ấp trứng, trong khi ở cá rồng châu Úc, cá cái làm nhiệm vụ này. Quá trình ấp diễn ra từ 4 đến 8 tuần tuỳ loài.

– Thứ nhất: các loài cá khổng tượng châu Phi ( Heterotis niloticus) và khổng tượng Nam Mỹ (Arapaima gigas) nay được xếp vào một họ riêng – họ cá khổng tượng (Arapaimidae). Vì vậy, khi đề cập đến họ cá rồng (Osteoglossidae), chúng ta sẽ không liệt kê các loài cá khổng tượng như vẫn thường làm trước đây. Để phân biệt, chỉ cần nhớ là họ Arapaimidae không có râu như cá rồng.

– Thứ hai: kết quả nghiên cứu khoa học vào năm 2003 của nhà khoa học Pháp Pouyaud và đồng sự trên các loại cá rồng ở Indonesia đã phân lập một số loài mới so với loài duy nhất vẫn được biết đến nay là Scleropages formosus. Chúng gồm huyết long, kim long hồng vĩ và thanh long Borneo. Chúng tôi sẽ cập nhật thông tin này ở đây.

Chúng tôi cũng lập bản đồ chi tiết về những vùng phân bố tự nhiên của các loài cá rồng trên thế giới, hy vọng rằng chúng sẽ đáp ứng phần nào nhu cầu hiểu biết về cá rồng cho cá bạn yêu thích

Cá rồng châu Á: Cá rồng châu Á là một trong những loài cá cảnh hàng đầu bởi vì danh tiếng, giá trị và vẻ đẹp tự nhiên của chúng. Được xem là có hình dạng và dáng bơi tương tự như con rồng trong truyền thuyết, người ta tin tưởng rằng cá rồng tượng trưng cho may mắn, thịnh vượng, của cải và sức khoẻ. Vì vậy, chúng được nuôi với mong muốn đem lại tác dụng phong thuỷ tích cực. Ngoài ra, màu sắc của một số loài cá rồng châu Á như huyết long và kim long quá bối cũng đẹp nhất trong họ cá rồng nói chung.

Sự đa dạng về chủng loại cá rồng trên thị trường cá cảnh là một minh chứng cho điều này. Nghiên cứu của Pouyaud và đồng sự (2003) đã phân lập các loài cá rồng ở Indonesia thành những loài riêng biệt gồm huyết long (Scleropages legendrei), thanh long Borneo (Scleropages macrocephalus) và kim long hồng vĩ (Scleropages aureus). Kim long quá bối và thanh long Nami vẫn được xếp chung với thanh long dưới tên Scleropages formosus cho dù chúng cũng có thể là những loài riêng biệt.

Thậm chí, trong từng loài cũng có thể có những dòng khác nhau. Về màu sắc, bên cạnh màu chủ đạo nằm ngoài viền vảy, màu ở trung tâm vảy gọi là màu nền. Ở mỗi loài lại phân ra nền xanh dương “blue-based”, nền xanh lá “green-based”, nền vàng “gold-based”, nền tím “purple-based”… Màu nền lan rộng trên mặt vảy làm màu viền hẹp lại là loại vảy bản mỏng “thin frame”, bằng ngược lại màu nền co cụm ở tâm vảy là loại vảy bản dày “thick frame”.

Về hình dáng, có dạng đuôi hình thoi “diamond shape” và dạng đuôi hình quạt “fan shape”, có dạng đầu hình muỗng “spoon head” và dạng đầu hình viên đạn “bullet head”, có dạng thân rộng và ngắn, có dạng thân dài và mảnh mai… Việc lai chéo (cross breed) các dòng cá rồng hoang dã ở một loài diễn ra khá phổ biến trong các trang trại cá cảnh ở Thái Lan, Malaysia, Singapore và Indonesia. Do đó, các nghiên cứu khoa học về cá rồng châu Á gặp rất nhiều khó khăn vì phải dựa vào các cá thể hoang dã vốn còn sót lại rất ít.

1 Huyết long (Scleropages legendrei)

Huyết long (super red) là loài cá rồng phân bố ở thượng lưu sông Kapuas và vùng hồ Sentarum, tỉnh Tây Kalimantan, đảo Borneo, Indonesia. Hồ Sentarum là một tập hợp gồm vô số những hồ nhỏ ăn thông với nhau bằng hệ thống kinh rạch chằng chịt và đổ ra sông Kapuas.

Vùng này phủ đầy bùn đất phát sinh từ lá cây và gỗ mục tạo ra môi trường sống hoang dã cho loài cá sơ khai này, dòng nước đen và nguồn thức ăn đa dạng có tác động tích cực lên màu sắc và hình dạng của chúng. Sự đa dạng về môi trường sinh thái này có thể là nguyên nhân tạo ra vô số những đặc điểm phân hoá ở loài huyết long. Chẳng hạn một số cá thể có thân rộng, một số khác có đầu hình muỗng (spoon head), một số có màu rất đỏ hay một số lại có màu nền rất sậm.

Nghiên cứu của các nhà khoa học ở trường Đại học Quốc gia Singapore vào năm 2005 trên 41 cá thể huyết long hoang dã cho thấy độ khác biệt về gen giữa các cá thể là khá lớn, điều này chứng tỏ sự tồn tại của những dòng cá huyết long khác nhau. Tuy nhiên, các nhà khoa học lại không đề cập gì đến đặc điểm bề ngoài của chúng. Việc nghiên cứu xa hơn trong tương lai có lẽ sẽ gặp nhiều khó khăn vì số lượng cá huyết long đang bị suy giảm nghiêm trọng do những biến đổi về môi trường mà chủ yếu là việc khai thác rừng.

Thực tế, những nhà kinh doanh cá rồng trước đây đã chia huyết long thành hai loại dựa trên màu sắc của chúng, đó là “chili red” phân bố ở vùng phía Nam và “blood red” phân bố ở vùng phía Bắc hồ Sentarum. Loại “chili red” có màu đỏ tươi, thân rộng và dày, trong khi “blood red” có màu đỏ sậm, thân dài và mảnh. “Chili red” dày đều từ đầu cho đến đuôi trong khi “blood red” lại thuôn về phía đuôi. Loại “chili red” có nền xanh “green-based”, đầu hình muỗng (spoon head) và đuôi hình thoi trong khi loại “blood red” có màu đỏ sậm, nền đen nâu “dark-based”, đầu hình viên đạn (bullet head) và đuôi hình quạt.

Loại “chili red” có mắt màu đỏ và to trong khi loại “blood red” có mắt nhạt màu và nhỏ hơn. Mắt “chili red” lớn đến nỗi có khi viền ngoài của nó “chạm” đến đầu và hàm dưới. Đuôi của “blood red” hình quạt trông đẹp hơn đuôi hình thoi của “chili red”. Đặc điểm này phát triển khi cá còn non giúp chúng ta có thể phân biệt được 2 loại cá một cách dễ dàng.

Dù có khác biệt, cả hai đều chuyển sang màu đỏ thực thụ khi đến tuổi trưởng thành. “Chili red” lên màu chậm hơn 1-2 năm so với “blood red” nhưng màu tuyệt đẹp với loại vảy bản mỏng “thin frame”. Quá trình lên màu của cả hai tương tự như nhau.

Màu cam thường là màu trung gian trước khi cá chuyển sang màu đỏ. Cá biệt có con đến 8 tuổi mà vẫn nhợt nhạt nhưng bỗng lên màu đỏ rực chỉ trong một thời gian ngắn làm người nuôi ngỡ ngàng. Việc đánh giá về huyết long đôi khi gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi nhiều nỗ lực và kiên nhẫn để phát hiện ra tiềm năng thực sự của một con huyết long non.

“Chili red” và “blood red” là tên gọi của các loại cá rồng hoang dã. Nên nhớ rằng các cá thể hoang dã bị cấm mua bán vì chúng là động vật cần được bảo vệ. Các trang trại cá cảnh thường lai chéo hai loại cá này với nhau để cho ra giống huyết long “super red”, cho nên trên thực tế, dòng huyết long thuần chủng đúng nghĩa không hề tồn tại trên thị trường cá cảnh cho dù có những cá thể mang đặc điểm của “chili red” hay “blood red”.

Cá huyết long chất lượng cao thường có màu vây đỏ sậm và đều ngay từ khi còn nhỏ. Chúng còn có màu sắc nổi bật và lưng thật sậm màu. Những con cá đẹp cũng có nhiều màu ánh kim trên thân. Đặc điểm này hiện rõ khi quan sát cá dưới ánh sáng tự nhiên. Khi cá đạt 25-30 cm, nắp mang và viền vảy phải có màu tím hay đỏ nâu, còn nếu chỉ hanh vàng là không đạt.

Huyết long loại hai như “Banjar red” cũng thường được bán lẫn lộn như huyết long chính hiệu nhưng có thể nhận biết vì vảy và vây của chúng luôn nhạt màu hơn.

Những loại huyết long thương mại khác như “golden red” và “orange red” cũng là cá lai và không bao giờ đạt đến màu đỏ thực sự. Tuy nhiên, nếu cá kém chất lượng được cho ăn chất lên màu thì rất khó phân biệt vì chúng cũng đỏ rực như huyết long. Người nuôi cá không nên ham rẻ, tốt nhất là mua cá từ nguồn cung cấp uy tín, cá có gắn chip và cấp giấy chứng nhận đàng hoàng.

2 Kim long quá bối (crossback golden)

Kim long quá bối (crossback golden) còn được gọi là “kim long Malaysia”, đây là một trong hai giống cá rồng đẹp và mắc tiền nhất trên thị trường cá cảnh (loài kia là huyết long). Thật không may, đợt nghiên cứu của nhà khoa học Pouyaud và đồng sự vào năm 2003 đã bỏ qua giống cá này với lý do không có đủ mẫu vật để nghiên cứu.

Vì vậy, giống này hiện vẫn được xếp chung với thanh long dưới tên khoa học Scleropages formosus, tuy nhiên, căn cứ vào các đặc điểm bề ngoài, chúng rất tương đồng với loài kim long hồng vĩ, điều này giúp suy đoán rằng cả hai có quan hệ họ hàng gần với nhau. Kim long quá bối phân bố ở bang Pahang và hồ Bukit Merah, bang Perak, Malaysia (có tài liệu còn liệt kê thêm các bang Johor và Trengganu).

Chúng có đầu to và thân tương đối ngắn so với các giống cá rồng châu Á khác. So với kim long hồng vĩ, kim long quá bối có màu vàng sáng hơn và luôn phát triển lên đến hàng vảy thứ năm.

Nhìn chung, một con kim long quá bối chất lượng phải có màu sắc trên vảy, nắp mang và vùng xung quanh mắt sáng và đều, màu sắc phát triển lên tới lưng, đặc biệt là vùng gần vây lưng khi cá còn rất nhỏ (dưới 15 cm).

Kim long quá bối được chia thành nhiều loại bao gồm “blue-based”, “purple-based”, “green-base”, “gold-based” và “silver-base” tuỳ thuộc vào màu sắc ở tâm vảy. Các loại “Blue-based” và “purple-based” là như nhau vì màu xanh hay tím là tuỳ vào góc nhìn, khi còn nhỏ loại cá này thường sậm màu. Những con có màu xanh đậm và sáng lan rộng trên vảy và nắp mang lớn lên sẽ rất đẹp.

Với loại này, màu xanh ở tâm vảy thường lan rộng làm màu vàng trên viền vảy hẹp lại (thin-frame). Loại “gold-based” khi còn nhỏ thường có màu vàng nhạt, màu sắc của chúng phát triển lên lưng sớm hơn so với những loại khác.

Loại này trông rất hấp dẫn bởi vì khi trưởng thành toàn thân vàng óng giống như thỏi vàng 24K di động! Với loại này, màu vàng đậm ở tâm vảy thường co lại làm màu vàng trên viền vảy rộng (thick-frame).

Thực tế, đôi khi rất khó phân biệt kim long quá bối thuộc loại nào kể trên vì ngày nay người ta lai chéo (cross breed) các loại với nhau. Việc lai chéo cũng giúp tạo ra những loại kim long quá bối đặc biệt như “platinum” và “royal blue”. Những loại mới này rất đẹp nên giá cũng rất cao và thường được bán qua các thị trường cao cấp như Nhật Bản và Đài Loan.

3 Kim long hồng vĩ (Scleropages aureus,HighBack Golden)

Loài này còn có tên là “kim long Indonesia”. Chúng phân bố ở đảo Sumatra, Indonesia trong các ao, hồ nhỏ dọc theo con sông Siak, đoạn chảy qua vùng Pekanbaru, tỉnh Riau và dọc theo con sông Batanghari, đoạn chảy qua khu bảo tồn Berbak, tỉnh Jambi.

Loài này có lưng và 1/3 vây lưng (phần chóp) sậm màu, phần vây lưng còn lại, vây đuôi và vây hậu môn màu hanh đỏ hay nâu. Khi còn non, cá có màu hơi ửng vàng nhưng khi trưởng thành, tức đạt kích thước khoảng từ 28-34 cm, màu sắc của chúng sẽ phát triển tối đa và cá có màu vàng sậm.

Giống như kim long quá bối, loài này cũng được chia thành nhiều loại gồm “green-based”, “blue-based” và “gold-based” tùy vào màu sắc ở tâm vảy.

Tuy nhiên, kim long hồng vĩ được xếp hạng thấp hơn bởi vì màu vàng của chúng không sáng bằng kim long quá bối, mặt khác màu sắc thường chỉ phát triển đến hàng vảy thứ tư khi cá trưởng thành.

Những con cá có chất lượng tốt hơn gọi là “cao lưng” (highback) kim long hồng vĩ có màu sắc phát triển lên đến hàng vảy thứ năm nhưng không bao giờ vượt quá lưng, màu trên nắp mang và viền vảy nổi rõ ngay cả khi cá còn non, độ khoảng 15 cm. Vây của chúng có màu đỏ sậm.

So với kim long quá bối, kim long hồng vĩ có sức chịu đựng tốt, đầu nhỏ, thân dài và hung dữ hơn nên thường được nuôi từng con riêng rẽ. Giá của kim long hồng vĩ cũng tương đối “mềm” hơn so với kim long quá bối và huyết long nên được nhiều người chọn nuôi.

So sánh Kim long hồng vĩ và Cao Lưng hồng vĩ (high back golden)

4 Thanh long (Scleropages formosus)

Đây là loài cá rồng có giá trị thấp nhưng lại phổ biến nhất trong số những loài cá rồng châu Á. Loài thanh long phân bố rất rộng bao gồm các đảo Borneo và Sumatra ở Indonesia, Malaysia, miền Nam Thái Lan, Campuchia và miền Nam Việt Nam.

Thanh long có kích thước tối đa khoảng 60 cm, lưng màu xanh sậm, thân màu bạc hay phớt xanh, màng vây màu xanh tím (đặc điểm chính để phân biệt với loài thanh long Borneo), tia vây màu đỏ nâu. Ở những cá thể trưởng thành, vùng xung quanh mắt chuyển sang màu xanh ngọc.

Chúng thường có dạng đầu hình viên đạn. Điều nữa cần để ý đó là ở đảo Borneo có cả hai loài thanh long là thanh long thường (Scleropages formosus) và thanh long Borneo (Scleropages macrocephalus).

Cá rồng châu Úc nhìn chung có vảy nhỏ hơn so với cá rồng châu Á. Mỗi bên thân cá rồng châu Úc có 7 hàng vảy so với 5 hàng vảy ở cá rồng châu Á. Đường bên cá rồng châu Úc có từ 32-35 vảy so với từ 21-25 vảy ở cá rồng châu Á. Một đặc điểm khác để nhận dạng đó là cặp râu cá rồng châu Úc không chỉa thẳng ra phía trước như cá rồng châu Á mà quặp xuống như râu dê. Khác với cá rồng châu Á và Nam Mỹ, cá rồng châu Úc cái làm nhiệm vụ ngậm và ấp trứng.

Cá rồng châu Úc được biết là loài xác định lãnh thổ và hung dữ nhất trong số các loại cá rồng, đặc biệt là loài Scleropages leichardti.

Chúng ta cần để ý đến yếu tố này khi nuôi chung cá rồng châu Úc với nhau và với những loài cá khác, tốt nhất là nên nuôi chúng riêng rẽ. Cá rồng châu Úc không nằm trong danh sách các động vật cần được bảo vệ. Thông tin và hình ảnh về chúng thường được tìm thấy trên các trang web giới thiệu về câu cá ở Úc! Giá cá rồng châu Úc từ 20-200 đô-la/1 con tùy theo kích cỡ và màu sắc.

Kim Long Úc (Scleropages jardinii)

Trân châu long (pearl arowana) còn được biết dưới các tên gọi khác như Gulf Saratoga hay Northern Spotted Barramundi. Loài này phân bố trong các con sông và dòng chảy đổ ra vịnh Carpentaria thuộc các bang Queensland và Northern Territory, châu Úc. Người ta còn ghi nhận sự xuất hiện của chúng ở vùng cực nam của đảo New Guinea. Chúng thích hợp với môi trường nước trong ở thượng nguồn các con sông.

Kích thước tối đa của trân châu long là 90 cm nhưng khi nuôi trong hồ kính cá thường chỉ đạt khoảng 60 cm. Ở cá non vây thường có màu hồng nhưng khi cá trưởng thành màu hồng sẽ mất đi, nắp mang xuất hiện hoa văn vằn vện màu đỏ đồng.

Lưng cá có màu xám phớt xanh hay nâu, thân màu đồng ánh vàng, màu sắc xuất hiện trên viền ngoài của vảy, các chấm trên mặt vảy màu vàng, cam hay đỏ và nằm sát với nhau tạo thành viền xen kẽ. Vây màu đen với những chấm lớn màu vàng cam hay đỏ.

Trân châu long thường lưu hành trên thị trường cá cảnh dưới tên gọi “kim long Úc”, đặc biệt có những con màu đỏ-nâu rất hiếm và đắt được gọi là “hồng long Úc”.

Cá thường sinh sản vào tháng 10, tức đầu mùa mưa ở Úc. Mối lần cá cái đẻ từ 50-100 trứng, cá cái ấp trứng trong khoảng 5 tuần.

Cá rồng Nam Mỹ phân biệt với cá rồng châu Á và châu Úc ở bộ vây. Ở cá rồng Nam Mỹ, Vây lưng và vây hậu môn bắt đầu từ phần giữa thân và chồng xếp lên vây đuôi tạo ra cảm giác chúng là một dải liên tục, vây ngực và đuôi nhỏ so với thân mình.

Trong khi ở cá rồng châu Á và châu Úc, vây lưng và vây hậu môn ngắn và lùi xa về phía sau, vây ngực và đuôi khá lớn so với thân mình.

Tuổi thọ của cá rồng Nam Mỹ có thể lên đến 20 năm. Ngoài môi trường tự nhiên, cá rồng sống ở sông rạch và đầm lầy.

Khi mực nước rút, chúng có thể tụ tập thành bầy đi săn mồi. Khi nước lên, cá rồng tản mác đi khắp nơi. Chúng săn mọi loại thức ăn nổi trên mặt nước như cá nhỏ, côn trùng, ếch nhái, thậm chí cả chim, bò sát và thú non, nói chung là tất cả những gì vừa với miệng của chúng!

1 Ngân long (Osteoglossum bicirrhosu m)

Cá ngân long (silver arowana) phân bố ở lưu vực sông Amazon, sông Rupununi (Guyana) và Oyapock (French Guyana), Nam Mỹ. Loài này có kích thước tối đa 1.2 mét, vảy to, hàm dưới trề, thân hình trông giống như con dao bầu và không nằm trong danh sách các loài cá phải bảo vệ.

Khi còn nhỏ, thân cá thường có những lằn xanh ánh kim và cam, đầu và vây có những đốm đen, viền vây màu hồng. Khi trưởng thành, cá chuyển sang màu ánh bạc. Cá đực có vây hậu môn dài và nhọn hơn cá cái.

Cá ngân long có giá thành tương đối rẻ, 20-25 đô-la một con nên chúng là loài cá rồng được nuôi phổ biến nhất. Tuy nhiên, tài liệu nghiên cứu gần đây ở Peru (Moreau & Coomes, 2006) cho thấy tình trạng khai thác cá rồng đến cạn kiệt đang diễn ra, bên cạnh đó người dân địa phương thu hoạch cá ngân long non bằng cách… chặt đầu cá bố để tránh chúng nuốt con vào bụng.

2 Hắc long (Osteoglossum ferreirai)

Cá hắc long (black arowana) phân bố ở lưu vực sông Negro (hình trên), một nhánh thuộc sông Amazon. Cá hắc long có hình dạng tương tự như cá ngân long nhưng vây và thân có màu đen khi cá còn non. Khi cá trưởng thành, thân chuyển sang màu xám, vây màu phớt xanh nên có người còn gọi chúng là “blue arowana”.

Cá hắc long hơi nhỏ hơn cá ngân long, chúng có kích thước tối đa 1 mét. Cá hắc long có giá tương tự như cá ngân long nhưng những con cá non có vây xanh lại được bán với giá khá cao, khoảng 500 đô-la/1 con 25 cm

Những con hắc long có vây màu xanh khi còn khá nhỏ như trên được người ta gán cho tên mới “blue arowana” (Osteoglossum cf. ferreirai) với mục đích thương mại. Bởi vì không hề có chứng cớ khoa học nào hỗ trợ cho điều này nên thực chất chúng chỉ là cá hắc long (Osteoglossum ferreirai) mà thôi


【#5】Phân Loại Cá Rồng Châu Á

Cá rồng Châu Á là loại cá được xếp vào hàng đầu trong thế giới cá cảnh, vì sự ưa chuộng rộng rãi, giá trị cao và vẻ đẹp của nó. Nét độc đáo của hình dạng, miệng rộng và vẩy sáng đã làm cho cá rồng trở nên đặc biệt. cá rồng là tượng trưng cho sự may mắn, phát tài lộc, và đem lại hạnh phúc do đó cá rồng trở thành con vật được cưng chiều nuôi nấng trong nhà để làm cho Phong Thủy được tốt hơn.

Cá rồng châu Á được chia ra làm 4 loại tùy theo màu sắc tự nhiên khác nhau của từng giống:

  • KIM LONG QUÁ BỐI từ Malaysia (Cross Back Golden Malaysia).
  • HUYẾT LONG (Super Red) từ tỉnh West Kalimantan, Indonesia.
  • KIM LONG HỒNG VỸ (Red Tail Golden) từ tỉnh Pekanbaru, Indonesia.
  • THANH LONG (Green Arowana)

Video Cá rồng Châu Á

A. KIM LONG QUÁ BỐI (Cross Back Golden)

Có nhiều tên cho loại cá này, có người gọi Kim Long Quá Bối, Lưỡi xương rồng Mã Lai (Malayan Bony Tongue), Bukit Merah Xanh (Bukit Merah Blue), Đài Bắc Thanh Hoàng Long (Taipie Blue Golden) và Vàng của Mã (Malaysian Gold).

Cá này khi trưởng thành sẽ có màu suốt qua lưng. Lý do có nhiều tên là vì cá này được tìm thấy tại nhiều nơi trên lãnh thổ Malaysia như Perak, Trengganu, hồ Bukit Merah và Johor.

Vì lý do nguồn cung ứng thấp, và nhu cầu thì quá cao, cho nên loại cá này thuộc dạng đắt nhất, và yếu tố làm cho giá tăng cao hơn là vì ngoài sự hiếm hoi có sẵn, kỹ thuật ép đẻ thành công cũng thấp. hiện nay các trại cá ở Sing và Mã Lai đang ép giống cá này.

Kim Long Quá Bối còn được phân loại xa hơn tuỳ theo màu của vẩy cá, bao gồm: nền Xanh, Tím, Vàng, Xanh Lục, và nền Bạc. Từ ngữ nền Xanh và nền Tím được dùng lẫn lộn tuỳ theo từng trại cá ép vì dải màu sậm trên sống lưng cá khi nhìn ở góc nghiêng thì có màu xanh dương đậm, nhưng khi nhìn ở một góc độ khác thì thành màu tím sậm. Nền Vàng là loại có vẩy màu vàng 24K, óng ánh từ viền vảy vào đến tâm vảy. Thay vì tâm vảy màu xanh hoặc màu tím.

Cá nền vàng này quá bối (màu qua lưng) nhanh nhất so với các loại cá khác. Kim Long Quá Bối có một sắc màu toàn vẹn nhất, khi trưởng thành, toàn thân vàng ửng như 1 thỏi vàng 24K bơi lơ lửng trong hồ.

Tuy nhiên ưu điểm là họ đã sản xuất ra những loại cá mới, lạ và sặc sỡ hơn. Điển hình các loại cá mới như Platium White Golden (Bạch Ngọc/Bạch Kim) và Royal Golden Blue (Hoàng Triều Thanh Long) là giống mới được sản xuất gần đây.

B. HUYẾT LONG (Super Red)

C. KIM LONG HỒNG VỸ (Red Tail Golden)

Được biết đến với tên Kim Long Hồng Vỹ hoặc Kim Long Indo, loại này được xếp hạng chung trong gia đình Kim Long với Kim Long Quá Bối. Bởi vì Kim Long Hồng Vỹ sẽ không bao giờ đạt được màu vàng 24K như Kim Long Quá Bối, và màu vàng của Kim Long Hồng Vỹ sẽ không bao giờ vượt qua khỏi lưng mà khi trưởng thành luôn luôn có 1 vệt đen lớn kéo dài từ đầu đến đuôi cá. Cũng giống như đồng chí Kim Long Quá Bối, Kim Long Hồng Vỹ cũng khác loại tuỳ theo màu sắc từng con, như nền xanh, xanh lục và nền vàng. Khi còn bé Kim Long Hồng Vỹ không có màu sắc gì trong khi Kim Long Quá Bối đã thể hiện màu mè rõ ràng, sáng lóng lánh, và màu cũng đã xâm nhập lên hàng vảy thứ 5 rồi.

D. THANH LONG (Green Arowana)

Đây cũng là 1 loại trong giống họ cá rồng, thường tìm thấy ở Thái Lan, Mã Lai, Miến Điện, Indonesia và Campuchia. Vì loại này sống ở nhiều phong thổ khác nhau và rộng rãi như vậy nên hình dạng và màu sắc cũng có thể khác nhau. Hầu hết những loại Thanh Long tìm thấy ở những nơi này có màu xám xanh ở thân mình và đuôi có sọc xanh xám đậm. Hình dáng Thanh Long cũng đặc trưng khác thường hơn so với các loại cá rồng khác, đầu và miệng thì tròn và to hơn.

Rất bình thường các chú cá này được hầu hết các tay mới tập chơi cá dùng làm bước khởi đầu cho sự nghiệp chơi cá cảnh sau này vì, vừa rẻ vừa dễ kiếm. Sau đó đã góp nhặt ít kinh nghiệm rồi mới bắt đầu chuyển qua Kim Long Hồng Vỹ, Kim Long Quá Bối hoặc Huyết Long.


【#6】Các Loại Cá Rồng Trên Thế Giới

Cá rồng từ lâu đã trở thành người bạn thân thiết của nhiều gia đình trong nước và trên thế giới vì chúng được xem là loài cá nuôi phong thủy mang lại nhiều may mắn cho gia chủ. Nhưng phân loại cá rồng ra sao? Huyết long, kim long quá bối hay thanh long… Cá rồng có mấy chi và được du nhập từ đâu chắc vẫn là câu hỏi của không ít người. Mình sẽ giới thiệu danh sách các loại cá rồng trên thế giới các bạn có thể tham khảo và lựa chọn để nuôi trong bài này.

Xuất hiện cách đây khoảng 350 triệu năm và không có nhiều biến đổi so với thời kì đầu, cá rồng xứng đáng xếp vị trí số 1 trong các loài cá cả về giá trị vật chất lẫn đời sống tâm linh của con người.

Còn theo phân loại trên thế giới theo châu lục, cá rồng có 9 loại như sau:

  1. Thanh Long (Green Arowana)
  2. Huyết Long (Red Arowana)
  3. Kim Long Quá Bối (Cross Back Golden)
  4. Cao Lưng Hồng Vỹ (High Back Golden)
  5. Hồng Long (Banjar Red, Yellow Tail)
  6. Kim Long Úc (Pearl Arowana)
  7. Hồng Điểm Long (Spotted Arowana)
  8. Ngân Long (Silver Arowana)
  9. Hắc Long (Black Arowana)

Các loại cá rồng và phân bố của chúng trên thế giới

Theo dân chơi chuyên nghiệp, cá Rồng được phân thành bốn loại cơ bản: Ngân Long (màu trắng), Kim Long (màu vàng), Thanh Long (màu xanh) và Huyết Long (màu đỏ). Ngân Long rẻ nhất, giá 300.000-800.000 đồng một con. Do hiền lành nên chúng thường được thả chung với các loại cá rồng khác.

Cá rồng con nhỏ từ 2 đến 4 triệu, con lớn từ 10 đến 18 triệu hoặc hơn

Sơ lược về các loại cá rồng

Cá rồng có tên khoa học là : Osteogleossidae, tên tiếng Anh là “Red fish” một loài rất hiếm gặp. Đây là loài cá có kích thước lớn, chiều dài cơ thể có thể lên đến 90cm và trọng lượng hơn 7kg khi trưởng thành. Cá rồng rất hiếm gặp ở Việt Nam, đã có thời gian nó được coi là đã tuyệt chủng. Cá rồng được dùng không chỉ làm cá cảnh, giới chơi cá còn nuôi để chữa bệnh, giữ phong thủy trong nhà, để ngắm nhìn hay đơn giản vì sở thích. Những người chơi cá quan niệm rằng, cá rồng là biểu tượng của sự quyền quý, may mắn và thịnh vượng. Có một bể cá Rồng trong nhà là có sức mạnh trấn tà ma xui rủi, đón tài lộc, phúc đức, may mắn vào nhà…

Lịch sử ra đời: Theo ghi chép của các nhà sinh vật học thì cá rồng là loài cá nước ngọt sơ khai nhất và không tiến hóa gì nhiều kể từ thời khủng long nên chúng được coi là loài đặc biệt quý hiếm.

Phân loại: Cá rồng có hai chi chính là Osteoglossum (cá rồng Nam Mỹ) và Scleropages (cá rồng châu Á và châu Úc). Đây cũng được coi là 3 khu vực sinh sống chính của cá rồng với nhiều loại khác nhau như cá rồng huyết long, kim long quá bối, thanh long, ngân long…. Tuy nhiên, theo đặc trưng khí hậu và tâm lý chung của dân chơi cá cảnh nước ta thì huyết long và kim long quá bối vẫn được ưa chuộng hơn cả.

Đặc điểm chung: Cá rồng là loài cá duy nhất hội tụ các yếu tố của loài rồng trong truyền thuyết: những chiếc vảy to, thân dẹp và dài, đầu có hình con dao bầu với một cặp râu ở chóp hàm dưới luôn chĩa ra phía trước, đặc biệt là toàn thân chúng phát ra màu đỏ rực rỡ hay màu vàng óng ánh hoàng kim minh chứng cho quyền uy của bậc đế vương. Cũng vì vậy chúng đứng hàng đầu trong các loài cá cảnh với mong ước sẽ đem lại vận may cho gia chủ.

Phân loại cá rồng châu Á

Cá rồng châu Á là loại cá được xếp vào hàng đầu trong thế giới cá cảnh, vì sự ưa chuộng rộng rãi, giá trị cao và vẻ đẹp của nó. Nét độc đáo của hình dạng, miệng rộng và vẩy sáng đã làm cho cá rồng trở nên đặc biệt và đã làm cho bao con tim của những tài tử si mê cá phải rung động. Với nét gần gũi cùng tổ tiên nhà rồng, tất cả các Hoa kiều trên toàn thế giới đều tin tưởng cá rồng là tượng trưng cho sự may mắn, phát tài lộc, và đem lại hạnh phúc do đó cá rồng trở thành con vật được cưng chiều nuôi nấng trong nhà để làm cho phong thủy được tốt hơn.

Theo tương truyền hồ cá rồng là Phong, Nước hồ là Thủy, Cá rồng là Tài, ba chữ này hợp lại thành Đại Phúc. Do vậy ngoài việc thưởng thức vẻ đẹp hiếm thấy của cá rồng mà các chủ nhân thường xem cá rồng như là biểu tượng cho sự phú quý của mình, đó là lý do tại sao cá Rồng được ưa chuông nhiều.

Thanh Long

Đây cũng là 1 loại trong giòng họ cá rồng, thường tìm thấy ở Thái Lan, Mã Lai, Miến Điện, Indonesia và Campuchia. Vì loại này sống ở nhiều phong thổ khác nhau và rộng rãi như vậy nên hình dạng và màu sắc cũng có thể khác nhau. Hầu hết những loại Thanh Long tìm thấy ở những nơi này có màu xám xanh ở thân mình và đuôi có sọc xanh xám đậm. Hình dáng Thanh long cũng đặc trưng khác thường hơn so với các loại cá rồng khác, đầu và miệng thì tròn và to hơn. Đây là loại cá rẻ tiền nhất trong các loại rồng cùng với loại Đuôi Vàng (Yellow Tail).

Tuy nhiên có 1 loại Thanh Long Xanh (có xen lẫn màu tím trên tâmvảy) thì lại được đứng chung hàng với các đàn anh cao quý khác. Thanh Long cùng với Huyết Long? hạng 2? (2nd Grade Red) được ưa chuộng nhiều nhất ở Thái Lan và Philippines vì giá mềm của nó. Bên cạnh đó, loại này cũng được các chú học trò nhỏ bên Nhật khoái vì vừa túi tiền, có khả năng tậu được, để vừa chiêm ngưỡng vừa tập ép đẻ.

Rất bình thường các chú cá này được hầu hết các tay mới tập chơi cá dùng làm bước khởi đầu cho sự nghiệp chơi cá cảnh sau này vì, vừa rẻ vừa dễ kiếm. Sau đó đã ký cóp 1 ít kinh nghiệm rồi mới bắt đầu chuyển qua KLHV, KLQB hoặc Huyết Long.

Trong những năm qua, vì sự ưa chuộng đại trà và nhu cầu quá cao, cộng với hứa hẹn của siêu lợi nhuận, sự săn bắt tận cùng bừa bải đã đưa số lượng cá rồng gần như tuyệt chủng.

2. Cá Rồng Huyết Long – Red Arowana (Phân loại cá rồng châu Á)

Cá rồng huyết long có tên khoa học: Scleropages formosus. Đây là loại rồng châu Á có màu đỏ, được coi là loài cá rồng đặc biệt quý hiếm đứng hàng đầu trong các loài cá cảnh nói chung và cá rồng nói riêng.

Xuất xứ: Loài cá quý hiếm này chủ yếu xuất hiện ở vùng thượng lưu sông Kapuas và vùng hồ Sentarum, tỉnh Tây Kalimantan, đảo Borneo, Indonesia. Đây đều là nơi có những hồ nhỏ ăn thông với nhau với hệ động thực vật phong phú giúp cho cá huyết long sinh trưởng và phát triển tốt.

Phân loại: Rồng Đỏ được chia ra làm 4 loại khác nhau: Đỏ Ớt (Chilli Red) Đỏ Huyết (Blood Red), Đỏ Cam (Orange Red) và Đỏ Vàng (24K) (Golden Red). Thời gian gần đây những rồng đỏ này được góp lại và gọi chung cùng tên là Huyết Long (Super Red) hoặc Rồng Đỏ cấp 1 (1st Grade Red). Điều này tạo ra tranh cãi, vì cách áp dụng tên Huyết Long khi loại Đỏ Cam và Đỏ Vàng không đạt được đúng nghĩa của chữ ĐỎ khi so sánh với 2 loại trên, vì chúng chỉ xuất hiện màu vàng da cam hoặc vàng 24K. Dù vậy các trại cá vẫn lạm dụng từ Huyết long để đặt tên chung cho cá ép của trại mình.

Loại Rồng Đỏ (Đỏ Ớt và Đỏ Máu, Chilli and Blood Red): Các nhà kinh doanh cá rồng trước kia đã dựa vào màu sắc của cá rồng huyết long mà chia làm 2 loại là “Chili red” phân bố ở vùng phía Nam và “Blood red” phân bố ở vùng phía Bắc hồ Sentarum.Đây là loại cá phổ biến nhất trong các loại cá rồng, nguyên nhân là vì màu sắc sặc sỡ đồng thời giá cả mềm hơn loại Kim Long Quá Bối, điểm nổi bật là vi, đuôi, miệng, râu đã trổ màu đỏ từ khi còn bé, các tay chơi cá thật khó cưỡng nổi ham muốn và rất thích làm chủ 1 chú cá này.

Khi lớn lên màu đỏ bắt đầu xuất hiện ở những phần thân thể khác như nắp mang cá, viền của vẩy, làm cho toàn thân cá ửng đỏ lên. Sự phổ biến và ưa chuộng Rồng Đỏ đã thúc đẩy các trại cá bắt đầu ép cá Rồng đỏ vì siêu lợi nhuận và hiện nay Rồng Đỏ lại đắt hơn Kim Long Quá Bối, tuy nhiên sau 1 thời gian ồ ạt sản xuất, Rồng Đỏ đã hạ gía thành, tuy nhiên vẫn đắt hơn Kim Long Quá Bối. Hai loài cá trên có nhiều đặc điểm khác nhau như:

Cá rồng “Chili Red” có màu đỏ tươi, thân rộng, dày và dài đều từ đầu cho đến đuôi trong khi “Blood Red có màu đỏ sậm, thân dài, mảnh và thuôn về phía đuôi. Ngoài ra, một vài đặc điểm dễ nhận biết khác là mắt “Chili Red” màu đỏ và to chạm đến viền ngoài của đầu và hàm dưới còn mắt ‘Blood Red có màu nhạt và nhỏ hơn. Đuôi của “Blood Red” hình quạt trông đẹp hơn đuôi hình thoi của “Chili Red”.

Hiện nay các trang trại cá cảnh thường lai chéo hai loại cá này với nhau cho ra cá huyết long “Super Red” với mong muốn đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Để có thể nhận biết cá huyết long chất lượng cao, bạn cần quan sát kỹ: cá có vây màu đỏ sậm và đều ngay từ khi còn nhỏ. Những con cá đẹp có nhiều ánh kim trên thân, điều này có thể nhìn rõ dưới ánh sáng tự nhiên. Nếu cá đạt từ 25-30 cm thì nắp mang và viền vảy phải có màu tím hay đỏ nâu, còn nếu chỉ hanh vàng là không đạt.

Đỏ cam (Orange Red): Đây là loại cá rất phổ biến trong giới ép cá đẻ vì dễ thành công hơn, loại không phải là loại “Hoá đỏ” (Red-turning type). Khi trưởng thành chú cá này trình diễn vây màu Vàng Cam phủ đầy mình rất rõ khi so sánh với Đỏ Ớt và Đỏ Máu. Sự khác biệt thể hiện rõ hơn khi phần Vi trên + dưới và đuôi cũng không được màu đỏ như 2 loại đàn anh trên.

Đỏ vàng (Golden Red): là loại cá rồng cũng thường gặp bên cạnh người anh em Đỏ Cam. Loại này có giá trị thấp nhất trong các loại Rồng Đỏ vì khi trưởng thành, nó chỉ có màu vàng nhạt quanh thân thể, môi và râu cũng không có màu đỏ mà chỉ hơi vàng 1 tí thôi, thật ra có nhiều con thuộc loại này cũng không có màu ở vi và đuôi nữa. Đây là hậu quả của sự ép đẻ khác giống đã cho ra 1 thế hệ có chất lượng nửa vời, chỉ vì sự ép đẻ rất thành công dễ dàng cho những trại cá chủ trương bán rẻ nhưng bán nhiều (số lượng hơn chất lượng).

Đỏ Xanh Lục (Banjar Red): hoặc còn gọi “Công dân loại 2” (2nd Grade Red) chưa bao giờ chính thức từ giống Huyết Long. Đây cũng lại là một chế tác của các ông lái cá tài tử ép đẻ giữa cá mái Đỏ Xanh Lục, Hồng Vỹ hoặc Thanh Long với Huyết Long đực chính hiệu để tăng năng xuất về cá con. Còn được gọi là Hồng Long, Thanh Hồng hay Huyết Long 2.

3. Kim Long Quá B ối – Cross Back Golden (Phân loại cá rồng châu Á)

Có nhiều tên cho loại cá này, có người gọi kim long quá bối, lưỡi xương rồng Mã Lai (Malayan Bony Tongue), Bukit Merah Xanh (Bukit Merah Blue), Đài Bắc Thanh Hoàng Long (Taipie Blue Golden) và Vàng của Mã (Malaysian, Gold). Tất cả đều cùng loại kim long quá bối. Cá này khi trưởng thành sẽ có màu suốt qua lưng. Lý do có nhiều tên là vì cá này được tìm thấy tại nhiều nơi trên lãnh thổ Malaysia như Perak, Trengganu, Hồ Bukit Merah và Johor.

Vì lý do nguồn cung ứng thấp, và nhu cầu thì quá cao, cho nên loại cá này thuộc dạng đắt nhất, và yếu tố làm cho giá tăng cao hơn là vì ngoài sự hiếm hoi có sẵn, kỹ thuật ép đẻ thành công cũng thấp. hiện nay các trại cá ở Singapore và Mã Lai đang ép giống cá này.

Kim Long Quá Bối còn được phân loại xa hơn tuỳ theo màu của vẩy cá, bao gồm: Nền Xanh, Nền Tím, Nền Vàng, Nền Xanh Lục, và nền Bạc. Từ ngữ Nền Xanh và Nền Tím được dùng lẫn lộn tuỳ theo từng trại cá ép vì dải màu xậm trên sống lưng cá khi nhìn ở góc nghiêng thì có màu xanh dương đậm, nhưng khi nhìn ở một góc độ khác thì thành màu tím sậm.Nền vàng là loại có vẩy màu vàng 24K, óng ánh từ viền vảy vào đến tâm vảy. Thay vì tâm vảy màu xanh hoặc màu tím. Cá nền vàng này qúa bối (màu qua lưng) nhanh nhất so với các loại cá khác. Kim Long Quá Bối có một sắc màu toàn vẹn nhất, khi trưởng thành, toàn thân vàng ửng như 1 thỏi vàng 24K bơi lơ lửng trong hồ. Thỉnh thoảng quay vòng nhẹ nhàng và tự tin trong phong thái VUA của các loài Cá Cảnh. Trong khi các loại cá cũng màu vàng khác không có được sắc màu trời cho này. Dĩ nhiên cũng không quên đề cập tới người anh em Nền Xanh Lục và Nền Bạc có tâm vảy màu xanh lục và màu bạc, tuy nhiên ít được ưa chuộng hơn.

Thật khó khăn khi muốn phân biệt cho thật chính xác vì các trại ép cá thường hay ép giống này lai qua giống khác, không còn thuần chủng như ngày xưa. Tuy nhiên ưu điểm là họ đã sản xuất ra những loại cá mới, lạ và sặc sỡ hơn. Điển hình các loại cá mới như Platium White Golden (Bạch Ngọc/Bạch Kim) và Royal Golden Blue (Hoàng Triều Thanh Long) là giống mới được sản xuất gần đây. Hai loại này hiện đang mang bảng giá cao nhất thế giới, và các Đại Gia Nhật Bản không quản ngại tiền bạc tung ra chỉ để sở hữu 1 chú này (DTV: có 1 chú đã bán ở Nhật với giá 800,000 USD và 1 chú khác giá 280,000 USD ????) và chỉ có ở Malaysia mới sản xuất thành công 2 loại cá trên.

Cá rồng kim long bối đầu vàng

Cá rồng kim long bối đầu vàng là một chi trong họ Kim long quá bối (Cross Back Golden hay Malaysian Golden) và chỉ đứng thứ 2 sau huyết long về màu sắc cũng như giá trị của chúng trên thị trường.

Cá rồng kim long bối đầu vàng chủ yếu xuất xứ ở các nước châu Á như Malaysia, chúng tôi long bối đầu vàng khi trưởng thành có thể đạt kích thước từ 60-80cm, thậm chí có thể dài hơn.

Đặc điểm: Nếu huyết long được yêu thích bởi màu đỏ mạnh mẽ cuồng nhiệt như máu thì kim long bối đầu vàng lại khiến người ta mê mẩn bởi ánh kim rực rỡ trên đầu giống như của bậc đế vương. Toàn thân chúng cũng có màu vàng và kéo dài đến tận hàng vây thứ 6- hàng cao nhất của lưng cá. Để có chiếc đầu “đặc biệt” như trên, nhiều chú cá đã phải trải qua kì rèn luyện vô cùng khắc nghiệt ngay từ nhỏ như sử dụng hocmon, phơi nắng, điều chỉnh ánh sáng, nằm trong thùng composite ít nhất 2 năm với hi vọng sẽ đem lại niềm vui và may mắn cho gia chủ.

Cá rồng kim long quá bối 24k 9999 Cá rồng kim long quá bối 24k 9999 là một chi trong họ Kim long quá bối với màu vàng rất đặt trưng. Tuy nhiên do phát triển lên lưng sớm hơn các loài khác nên khi trưởng thành, màu sắc chủ đạo của cá rồng kim long quá bối là màu vàng óng giống như thỏi vàng 24k tượng trưng cho sự quý phái của bậc đế vương nên tên chúng được gắn với những con số ấn tượng như trên.

Cá rồng kim long quá bối 24k 9999 còn được gọi là “Kim long Malaysia” do chúng chủ yếu sinh trưởng và được lai tạo giống tại bang Berak của Malaysia với điều kiện môi trường thích hợp. Chính vì vậy mà kích thước tối đa của chúng có thể đạt là 90cm với chiếc đầu to và thân tương đối ngắn. So với kim long bối đầu vàng thì cá rồng kim long quá bối 24k 9999 chỉ phát triển đến hàng vây thứ 5 và để đánh giá chất lượng của một chú kim long cá bối 24k 9999 thì bạn nên chú ý quan sát màu sắc trên vảy, nắp mang, vùng xung quanh mắt và đặc biệt là vây lưng.

4. Cao Lưng Hồng Vỹ – Kim Long Hồng Vỹ – high Back (Phân loại cá rồng châu Á) Cá rồng kim long high back còn có tên gọi khác là “kim long Indonesia” vì chúng phân bố chủ yếu ở đảo Sumatra, Indonesia với các ao, hồ nhỏ dọc theo con sông Siak và sông Batanghari nơi có hệ động thực vật phong phú.

Sở dĩ loài cá này được gọi là kim long high back là do lưng và 1/3 vây lưng (phần chóp) hơi gù lên có màu sậm, phần vây lưng còn lại, vây đuôi và vây hậu môn màu hanh đỏ hay nâu. Khi còn non, cá có màu hơi ửng vàng nhưng khi trưởng thành, kích thước khoảng từ 28-34 cm, màu sắc của chúng sẽ phát triển tối đa và cá có màu vàng sậm.

Giống như kim long quá bối, loài này cũng được chia thành nhiều loại gồm “green-based”, “blue-based” và “gold-based” tùy vào màu sắc ở tâm vảy. Tuy nhiên, kim long hồng vĩ được xếp hạng thấp hơn bởi vì màu vàng của chúng không sáng bằng kim long quá bối, mặt khác màu sắc thường chỉ phát triển đến hàng vảy thứ tư khi cá trưởng thành. Đây cũng là loài cá được ưa chuộng trên trên thị trường hiện nay bởi mức giá phù hợp hơn so với kim long quá bối hay huyết long.

5. Hồng Long – Banjar Red (Phân loại cá rồng châu Á) Còn được biết với tên cá rồng Thanh Hồng, Huyết Long 2 vì màu có hồng. Sống chủ yếu ở châu Á, các nước như Thái Lan, Việt Nam, Campuchia, Malaysia, Indonesia.

Cá rồng Hồng Long, Thanh Hồng, Huyết Long 2

6. Cá Rồng Kim Long Úc – Trân Châu Long – Rồng Châu– Pearl Arowana (Phân loại cá rồng châu Úc)Phân loại cá rồng châu Úc

Cá rồng châu Úc nhìn chung có vảy nhỏ hơn so với cá rồng châu Á. Mỗi bên thân cá rồng châu Úc có 7 hàng vảy so với 5 hàng vảy ở cá rồng châu Á. Đường bên cá rồng châu Úc có từ 32-35 vảy so với từ 21-25 vảy ở cá rồng châu Á. Một đặc điểm khác để nhận dạng đó là cặp râu cá rồng châu Úc không chỉa thẳng ra phía trước như cá rồng châu Á mà quặp xuống như râu dê. Khác với cá rồng châu Á và Nam Mỹ, cá rồng châu Úc cái làm nhiệm vụ ngậm và ấp trứng.

Cá rồng châu Úc được biết là loài xác định lãnh thổ và hung dữ nhất trong số các loại cá rồng, đặc biệt là loài Scleropages leichardti. Chúng ta cần để ý đến yếu tố này khi nuôi chung cá rồng châu Úc với nhau và với những loài cá khác, tốt nhất là nên nuôi chúng riêng rẽ. Cá rồng châu Úc không nằm trong danh sách các động vật cần được bảo vệ. Thông tin và hình ảnh về chúng thường được tìm thấy trên các trang web giới thiệu về câu cá ở Úc! Giá cá rồng châu Úc từ 20-200 đô-la/1 con tùy theo kích cỡ và màu sắc.

Kim Long Úc

Còn được biết dưới các tên gọi khác như Gulf Saratoga hay Northern Spotted Barramundi. Loài này phân bố trong các con sông và dòng chảy đổ ra vịnh Carpentaria thuộc các bang Queensland và Northern Territory, châu Úc. Người ta còn ghi nhận sự xuất hiện của chúng ở vùng cực nam của đảo New Guinea. Chúng thích hợp với môi trường nước trong ở thượng nguồn các con sông.

Kích thước tối đa của trân châu long là 90 cm nhưng khi nuôi trong hồ kính cá thường chỉ đạt khoảng 60 cm. Ở cá non vây thường có màu hồng nhưng khi cá trưởng thành màu hồng sẽ mất đi, nắp mang xuất hiện hoa văn vằn vện màu đỏ đồng. Lưng cá có màu xám phớt xanh hay nâu, thân màu đồng ánh vàng, màu sắc xuất hiện trên viền ngoài của vảy, các chấm trên mặt vảy màu vàng, cam hay đỏ và nằm sát với nhau tạo thành viền xen kẽ.

Vây màu đen với những chấm lớn màu vàng cam hay đỏ. Trân châu long thường lưu hành trên thị trường cá cảnh dưới tên gọi “kim long Úc”, đặc biệt có những con màu đỏ-nâu rất hiếm và đắt được gọi là “hồng long Úc”.

Cá thường sinh sản vào tháng 10, tức đầu mùa mưa ở Úc. Mối lần cá cái đẻ từ 50-100 trứng, cá cái ấp trứng trong khoảng 5 tuần.

Địa bàn phân bố tự nhiên của trân châu long (vịnh Carpentaria và cực nam New Guinea) và hồng điểm long (lưu vực sông Dawson).

Trân châu long hay kim long Úc (Scleropages jardinii) với đốm và hoa văn đặc trưng trên nắp mang

7. Hồng Điểm Long – Spotted Arowana (Phân loại cá rồng châu Úc) Còn được biết dưới các tên gọi khác như Spotted Barramundi hay Southern Saratoga. Loài này phân bố ở lưu vực sông Dawson/Fitzroy, đông bắc bang Queensland (hình trên). Khác với trân châu long, hồng điểm long ưa thích môi trường nước đục ở các ao hồ và đầm lầy có thực vật thuỷ sinh mọc trên bề mặt.

Kích thước tối đa của hồng điểm long là 90 cm. Nắp mang không có hoa văn. Lưng cá có màu xám phớt xanh hay nâu, thân màu xanh lá cây nhạt, mặt vảy có từ 1-3 chấm màu đỏ cam nằm ở trung tâm nên nhìn tổng thể thân cá sẽ thấy những đốm đỏ riêng rẽ thay vì viền xen kẽ như ở trân châu long. Vây có viền đen với nhiều chấm nhỏ màu đỏ cam. Lưng hồng điểm long phẳng hơn so với trân châu long.

Hồng điểm long sinh sản vào tháng 8 và 9 hàng năm. Số lượng trứng và thời gian ấp cũng tương tự như ở loài trân châu long. Loài này ít phổ biến trên thị trường cá cảnh so với loài họ hàng của chúng là trân châu long.

Mỗi loại cá rồng đều có những đặc điểm riêng phù hợp với sở thích và điều kiện của nhiều khách hàng.

8. Bạch Long – Ngân Long – Silver Arowana(Phân loại cá rồng Nam Mỹ)

Tên khoa học là Osteoglossum Bicirrhosum.

Bạch Long được tìm thấy ở Sông Amazon miền Nam Mỹ. Hình dạng cũng giống Hắc Long ở chỗ đuôi hình nón, vảy và vi có màu bạc, loại này không được bảo vệ. Cùng họ hàng với Bạch Long có 2 loại rất hiếm là Bạch Long Hồng Vỹ (Red-Tail Silver) và Bạch Tuyết Long (Snow Silver).

Bạch Long là loại cá rồng phổ thông mà bạn có thể tìm thấy ở bất cứ tiệm cá cảnh nào tại bất cứ địa phương nào trên trái đất, loại này đứng hàng số 1 trong các loại rồng thuộc giống Osteoglossidae. Giống như Hắc Long, cả 2 đều xuất xứ từ Nam Mỹ, đều có đuôi hình nón, nhưng chỉ khác là màu bạc trắng toàn thân. Bạch Long khi trưởng thành có thể dài đến 90Cm, và là dài nhất trong tất cả các loại cá rồng. Bạch Long nổi tiếng ăn khỏe và dịu dàng nhất trong các loại cá rồng.

9. Hắc Long – Black Arowana(Phân loại cá rồng Nam Mỹ, Châu Phi)

Tên khoa học là Osteoglossum Ferrerai.

Hắc Long cũng xuất xứ từ Nam Mỹ và hình dạng cũng giống Bạch Long ở chỗ đuôi hình nón. Khi còn bé, Hắc Long có Vi và vảy màu đen, với những dọc trắng hoặc vàng trên vi, Nhưng đến khi trưởng thành, Hắc Long sẽ từ từ mất dần màu sắc và trở thành màu xám. Hắc Long có thể dài đến 80 Cm và không có trong danh bạ bảo vệ. Hắc Long khó nuôi hơn Bạch Long. Loại này hơi khó kiếm vì chỉ đẻ theo mùa, trong khi các loại khác thì có thể đẻ quanh năm. V)

Hắc Long Phi – Cá Rồng Đen Châu Phi – Africa Black Arowana

Tên khoa học là Heterotis Niloticus.

Còn có tên Africa Nile Arowana hoặc phổ biến hơn là Rồng Đen Châu Phi (Africa Black Arowana). Loại rồng châu phi này hiếm nhưng không đắt, vì ít có người hoặc chuyên gia cá cảnh thích nuôi vì không đẹp so với các loại cá rồng khác.

Rồng châu phi xuất xứ từ Phi Châu, và thường thấy ở các tiệm cá, Nó có đầu tròn, láng lẩy, và cằm cũng tròn, vẩy và đuôi nhỏ, khi trưởng thành trông giống cá tra hơn là cá rồng.

Hy vọng danh sách cá loại cá rồng này sẽ giúp bạn chọn được loại cá rồng để nuôi như ý!


【#7】Hướng Dẫn Kỹ Thuật Nuôi Cá Đĩa

Kỹ thuật nuôi cá đĩa

Trong bài viết này, Farmvina sẽ giới thiệu bạn một số loại cá đĩa thông dụng và kỹ thuật nuôi cá đĩa hiệu quả.

Cá đĩa thường (Cá đĩa đỏ, Cá ngũ sắc thần tiên)

Symphysodon discus, Discus, Pompadour, Poisson-disque (Red discus, royal blue discus)

Họ: Cá rô phi – Cichlidae

Phân bố: Amazon (Nam Mỹ)

Chiều dài cá trưởng thành: 15-20 cm

Là loài cá lớn nhất trong các loài cá đĩa. Thân cá dạng đĩa rất cao, rất dẹp bên; miệng nhỏ, che xiên theo chiều cao.

Màu nền là màu nâu vàng hay màu hạt dẻ, màu mận. Có nhiều vân ngũ sắc màu lam nhạt nhìn thấy rõ ràng bên hông cá.

Có 7 sọc dọc sẫm màu, sọc thứ 5 nằm ở giữa thân là sọc rộng nhất và sẫm màu hơn các sọc khác.

Hông cá có những đường lượn sóng màu lam nhạt và óng ánh, kéo dài lên 1 phần các cây lưng và hậu môn. Các phần khác màu xanh da trời.

Đầu có những hình trang điểm màu xanh lam nạht lấp lánh hay trong mờ.

Cá đĩa đỏ: cơ thể và gốc các vây lưng, hậu môn có màu đỏ nâu.

Bể nuôi:

Bể nên thật rộng và sâu, mực nước 45-60cm.

pH: 6-6,8.

Nhiệt độ: 22-30 độ C.

Nuôi từng nhóm 5-6 con trở lên.

Thức ăn: Cung quăng, trùn chỉ, ròng ròng, thịt bò băm nhỏ, thức ăn khô tổng hợp, nên thay đổi thường xuyên để đảm bảo đủ các chất dinh dưỡng…

Cho ăn: Cá háu ăn, nhưng chỉ nên cho ăn ngày 2 lần với lượng vừa đủ. Cho ăn sạch. Sau khi cá ăn xong (trong khoảng 5-10 phút), lấy hết thức ăn thừa ra. Cá có thể nhịn đói 24-48 giờ.

Sinh sản:

Cá đĩa khó sinh sản nhân tạo, bể sinh sản nhân tạo nên có pH hơi axit (pH=5,5-6).

Cá đực: hình dáng to, đầu hơi gù, vây bụng xệ, dưới bụng vùng giáp vây lõm vào trông rất rõ, hoạt động hung hăng hơn cá cái.

Cá cái: thường nhỏ hơn cá đực, gai sinh dục lồi ra ngắn (#3mm) , chia 2 thùy nhọn và hơi cong về phía sau.

Giai đoạn bắt cặp xảy ra trong vòng 7-10 nàgy. cặp cá sẽ tự tách ra một góc bể, dùng miệng làm sạch nơi sẽ sinh đẻ. Đôi cá này thường kề sát miệng, quẫy mạnh đuôi, đuổi bắt nhau, xua đuổi những con khác lại gần chúng. Tiếp đó chúng bơi sóng đôi, quấn quít bên nhau. Trước khi đẻ một vài ngày, cá có hiện tượng rùng mình, rung toàn thân, xếp vây lại, đôi lúc đứng yên tại chỗ, ít bắt mồi. Khi sinh, cá chúc đầu xuống 45 độ. Lúc này gai sinh dục lộ rõ, màu sắc rực rỡ hẳn lên. Cá cái đẻ trứng theo chiều dọc giá thể, từ dưới lên. Cá đực cũng theo lộ trình đó tiết tinh để thụ tinh cho trứng. Số trứng thường 70-80 đến 150, có khi hơn.

Trứng đựơc thụ tinh có màu trong suốt. trứng khôgn thụ tinh thì vẩn đục. Sau 24 giờ, trứng thụ tinh chuyển sang màu trắng xám. Ở 30 độ C trứng nở trong vòng 55-57 giờ. Trong lúc này cá bố và cá mẹ thay phiên nhau quạt nước cho trứng để có đủ độ thoáng khí. Tỉ lệ trứng nở: 60-90%.

Nên cho cá đẻ nơi yên tĩnh (quây, che bể cá lại).

Ương cá bột: Sau khi trứng nở thành cá bột, cá bố mẹ dìu cá con đến một địa điểm khác. Nhờ sợi nhờn ở đầu, cá con bám vào thành bể hoặc một giá thể. Cá con chưa bơi lội được và sống nhờ chất dự trữ ở túi noãn hoàng dưới bụng. Con nào bị rớt sẽ được cá bố mẹ mang về chỗ cũ.

Sau 60 giờ, cá con có thể bơi lội thành đàn quanh cá bố mẹ. Cá con sống nhờ ăn chất nhờn tiết ra từ mình cá bố mẹ trong vòng 12-15 ngày. Sau đó, cá con bắt đầu ăn được các sinh vật nhỏ trong nước. Khoảng 18 ngày, cá con ăn được thức ăn nhân tạo. Sau 21 ngày chúng có thể tự đi tìm thức ăn.

Cá mới nở dài khoảng 1,2-2mm; sau 1 tuần cá dài 3mm. Khoảng 2 tuần tuổi, cá dài 1cm, thân có sọc thẳng, mắy màu nâu xám. Khi được 18 ngày, cá dài 1,5cm, vây lưng và vây bụng màu đen, lên màu. Khoảng 5-6 tuần, cá dài khoảng 2-2,5cm, có hình dạng như cá trưởng thành, nhưng chưa rõ màu sắc. Sau 3 tháng, cá dài 6-7cm và màu sắc thể hiện rõ, nhưng phải đến tháng thứ 5-6, cá mới có màu sắc sặc sỡ của cá trưởng thành.

Trong thời gian đầu, từ ngày thứ 7, nên cho cá ăn bo bo ( Moina) non (nhỏ), bọ một mắt ( Cyclops) non, ngày vài lần, tránh cho ăn quá no. Thức ăn nên phân bố đều trong toàn bể, tránh cá lớn tranh ăn. Tiếp đó cho đến 2 tháng rưỡi, nên cho cá ăn rận nước (Daphnia). Cá 3-4 tháng cho ăn thêm cung quăng, trùn chỉ. Sau đó cho ăn thêm ròng ròng, bảy màu nhỏ.

Trong vài tuần đầu, nên giữ nhiệt độ nước 29-30 độ C. Có ánh sáng khoảng 18 giờ. Nhưng không nên dùng ánh sáng quá chói chang.

Symphysodon aequifasciata haraldi, Blue discus, discus bleu

Họ: Cá rô phi – Cichlidae

Phân bố: Amazon (Nam Mỹ)

Chiều dài cá trưởng thành: tới 12 cm hay hơn

Cá đĩa nâu

Symphysodon aequifasciata axelrodi, Brown discus, discus brun

Họ: Cá rô phi – Cichlidae

Phân bố: Amazon (Nam Mỹ)

Chiều dài cá trưởng thành: 14 cm

Cá đĩa xanh lục

Symphysodon aequifasciata aequifasciata, Green discus, Discus vert

Họ: Cá rô phi – Cichlidae

Loại cá đĩa có màu này là loại quý hiếm.

Cá đĩa là loài cá cảnh khi bị bệnh thường có màu sẫm đen, bơi lội lờ đờ, hay ở sát đáy bể hay loi ngoi lên mặt nước, cờ trên và cờ dưới xếp lại, đuôi bị ăn mòn. Cá bị bệnh rất biếng ăn.

Các bệnh thường thấy ở cá đĩa:

– Nấm thủy mi (mốc nước): gây nên những chấm nhỏ màu trắng trên thân cá. Có thể dùng sulfat đồng sát trùng cho cá với nồng độ vừa phải.

– Lở loét mũi: do một loại ký sinh xâm nhập vào mũi, từ đó ăn hết phần thịt của mũi, tạo thành một lõm lớn lan rộng đến mắt và sâu tới não. Cá bị bệnh thường cọ mũi vào vật dụng để trong thành bể, vào thành bể, thường nghiêng đầu xuống khi bơi, biếng ăn hay bỏ ăn, phân trắng, loãng. Có thể dùng Tetracyclin để trị bệnh cho cá, nhưng cũng chỉ trị được dứt bệnh khi cá mới bị nhiễm giai đoạn đầu. Cá bị bệnh có thể lây bệnh sang những con cá khoẻ mạnh khác và có thể gây chết hàng loạt. Do đó phải chú ý giữ gìn vệ sinh bể nuôi, cách ly cá bị bệnh.

Cách nuôi cá Đĩa theo kinh nghiệm chia sẻ từ các diễn đàn cá cảnh

Theo đặc tính của loài thần tiên 7 màu này, nên nuôi trong bể số cá cùng cỡ cùng tuổi. Số lượng tương đối nhiều tốt hơn là nuôi thưa cá.

Nuôi dày tuy chóng làm bẩn nước, tất nhiên phải có cách xử lý là thay nước nhiều hơn và phải chú ý đến hệ thống lọc nước.

Lần đầu nuôi cá, chưa nên quá chú ý đến lựa chọn chủng loại chỉ nên sao lựa được cá không bệnh tật, ham ăn dáng vẻ linh hoạt, khỏe mạnh, thân không bị đen, không nhát, tùy khả năng kinh tế mua nhiều một chút những con cá bằng nhau.

Khi mới đưa về nuôi nên nâng nhiệt độ cao hơn một chút. Cụ thể là 33 0C trên dưới không quá nhiều. Thay nước nhiều lần và cho ăn cũng nhiều lần cho cá quen dần.

Cần phân biệt cá lớn, nhỏ nuôi riêng.

Với cá từ 3 – 5 cm:

Cỡ này khá nhiều, giá rẻ và dễ nuôi nhất. Nói chung cá càng nhỏ càng mau quen, chúng không sợ người như cá lớn.

Bể cá mua ở thị trường cỡ 45 – 60 cm là được. Mới đầu không cần thiết phải mua một bể lớn. Hơn nữa bể lớn thả không nhiều cá, không gian vắng vẻ làm cá không yên.

Trong khi sử dụng 1 bể lớn cũng nhiều điều bất tiện. Bể nhỏ là tốt hơn.

Với bể 45 cm nên nuôi khoảng 10 con cỡ 4 – 5 cm.

Với bể 65 cm nên nuôi khoảng 10 – 15 con nếu hàng ngày thay nước đều và cho ăn thức ăn sống có thể nuoi đến 30 con cũng không có vấn đề gì.

Bể nuôi không cần phải trải cát ở đáy, chỉ cần có bộ tăng nhiệt (hay cấp nhiệt) có kèm bộ phận tự động điều chỉnh nhiệt độ và 2 bộ máy lọc nước (cần 1 bộ làm việc và 1 bộ thay thế khi bảo dưỡng để đảm bảo không ngừng công việc). Bảo dưỡng phải theo chỉ dẫn và không dùng nước máy khi súc rửa, cần dùng ngay nước nuôi cá đúng chất lượng trong việc này.

Cá từ 7 – 11 cm:

Dùng bể nuôi 75 x 45 x 45 cm hoặc 90 x 45 x 45 cm. Cũng dùng 2 bộ lọc nước như trên. Nên dùng bể 75 cm có thể nuôi 5 con kích thước từ 6 – 11 cm, hoặc 20 con kích thước 7 – 8 cm.

Do không có đáy cát, có khi cá bị dị ứng với ánh sáng phản chiếu trên kính, có thể phủ một lớp nilông hay tấm PVC màu xám. Tuy nhiệt độ tốt nhất cho cá đẻ trứng là 31 oC nhưng trên dưới 30 C là bảo đảm cho cá phát dục.

Việc thay nước số lần và lượng nước thay cần căn cứ vào: bể lớn nhỏ, cá lớn nhỏ và số lượng nhiều ít. Hệ thống lọc nước và hiệu suất thực tế.

Với bể 75 cm (nếu chỉ dùng hệ thống lọc đặt bên trên) mỗi ngày thay nước 1 lần từ 50 – 70%. Nếu dùng hệ thống lọc nói trên kết hợp hệ thống lọc đặt trong bể cùng làm việc, 3 ngày thay 1 lần và thay 50%. Đây là tình hình thực tế đã được tác giả thử nghiệm có kết quả tốt.

Cá từ 11 cm trở lên:

Khi cá đã lớn được như vậy, người nuôi cá có phần đã yên tâm không còn vất vả và tốn công sức nhiều.

Nên dùng bể 90 cm có thể nuôi từ 5 đến 15 con, ngày cho ăn 1 lần là được. 2 ngày 1 lần thay nước khoảng 70 – 80%. Cũng sử dụng 2 máy lọc nước nói trên với 1 máy lọc thả trong bể (còn gạo là máy lọc động lực có mô tơ). Thay nước giảm còn 1 tuần 1 lần 70%. Đến đây đã có thể có con bắt đầu phát dục khi cho ăn cần chú ý xem chúng có ăn đủ không?


Bạn đang xem chủ đề Cá Rồng Royal Red Là Gì trên website Lumiaappcampuschallenge.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!