Giá Cá Rồng Nước Ngọt

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề Giá Cá Rồng Nước Ngọt xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 27/01/2021 trên website Lumiaappcampuschallenge.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung Giá Cá Rồng Nước Ngọt để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, chủ đề này đã đạt được 1.683 lượt xem.

Có 37 tin bài trong chủ đề【Giá Cá Rồng Nước Ngọt】

【#1】Cá Đuối Nước Ngọt Giới Thiệu Và Phân Loại Cá Đuối

Trong những năm gần đây, cá đuối nước ngọt (freshwater stingray) ngày càng phổ biến và giá bể kính cũng rẻ đi, điều khiến chúng trở thành vật nuôi của người chơi cá cảnh tại gia trong bể cá rồng.

Mặc dù những con sông lớn trên thế giới đều có cá đuối nước ngọt nhưng đa số đều phân bố ở lưu vực sông Amazon, và cùng với quần thể động-thực vật của mình, hệ thống sông Amazon chứa đựng vô số biến thể cá đuối trong lòng sông và các nhánh của nó, từ Peru và Colombia ở phía tây cho đến tận cửa sông ở đông bắc Brazil. Một vài loài cá đuối nữa cũng được phát hiện trong các con sông vùng nhiệt đới khác ở Nam Mỹ vốn không nối với sông Amazon. Cá đuối là loài sinh vật rất cổ sơ mà lịch sử tiến hóa của chúng có thể được truy ngược đến 300 triệu năm trước.

Lịch sử tiến hóa

Các loài phổ biến nhất trong các con sông ở Nam Mỹ thuộc chi . Nhưng có một số loài mà hiện thông tin về chúng còn rất ít chẳng hạn như Potamotrygoncá đuối sứ (china ray) hay cá đuối coly.

Được biết cá đuối Amazon có quan hệ họ hàng gần với cá đuối Thái Bình Dương. Sự phân lập có lẽ xảy ra khi dãy núi Andes trồi lên khoảng 150 triệu năm trước đây, chặn đường thoát về phía tây của con sông và buộc nó đổ về phía đông ra Đại Tây Dương, cách ly nhiều loài cá đuối trong hệ thống mới. Sự phân lập này cùng với khí hậu nhiệt đới và mực nước biến đổi một cách đáng kể theo mùa của sông Amazon đã tạo ra điều kiện lý tưởng và áp lực to lớn lên sự tiến hóa của chúng, bởi như chúng ta thấy ngày nay có vô số biến thể cá đuối được phát hiện trong cùng một hệ thống. Thậm chí trong cùng một loài phân bố trên toàn con sông như motorohystrix cũng có nhiều hình thái, mà mỗi hình thái đều có màu sắc và hoa văn riêng vì địa bàn và nguồn thức ăn giữa các vùng đều khác biệt đôi chút.

Cảnh báo về gai độc của cá đuối

Cá đuối “stingray” được đặt tên dựa theo cái gai nhọn, răng cưa nằm ở bên trên và xuôi về phía sau đuôi. Thường được bao bởi một lớp da và không dễ phát hiện, vũ khí phòng vệ hiệu quả này được làm bằng protein tổng hợp và đi kèm với nọc cực độc mà nó thường được tiết ra mỗi khi lớp da bị rách. Nếu bị gai đâm phải thì nó sẽ tạo ra vết rộp lớn và cảm giác rát bỏng. Cách điều trị khẩn cấp là ngâm ngay vết thương vào nước nóng hết mức chịu đựng để trung hòa chất độc. Điều này không phải lúc nào cũng thực hiện được, nhất là khi đang ở ngoài sông. Cách điều trị cổ truyền là đi tiểu vào vết thương mà nó hiệu quả bởi vì nước tiểu vừa nóng, vô trùng lại hơi có tính a-xít. Truyền thuyết vùng Amazon kể rằng phải tìm thiếu nữ đồng trinh tiểu lên vết thương thì mới có tác dụng, điều dẫn đến câu chuyện vui rằng “có tin tốt lẫn tin xấu, tin tốt là… còn tin xấu là không còn thiếu nữ đồng trinh nào ở Brazil!”. Mặt dù cực kỳ đau đớn, vết “chích” hiếm khi nguy hiểm đến tính mạng ngoại trừ một vài ngoại lệ kỳ lạ mà nó xảy ra ở ngực gần với tim, sự cố được ghi nhận khi một ngư dân kéo con cá đuối vừa bắt được lên thuyền. May thay đối với người nuôi, cá đuối hiếm khi tỏ ra hung dữ kể cả với con to nhất, mặc dù chúng có khả năng tấn công mục tiêu rất chính xác bằng cách quất hay đâm bằng cái đuôi mạnh mẽ. Ở Amazon, đa số tai nạn với cá đuối đều do đạp phải khi chúng ẩn mình dưới lớp cát để nghỉ ngơi hoặc săn mồi vào ban ngày và vì thế các vết chích đều xảy ra ở bàn chân hay từ đầu gối trở xuống. Bản thân cá đuối cũng thích tẩu thoát hơn là bị đạp phải do đó người dân địa phương biết cách lê chân hay dùng gậy dò nền cát phía trước mặt khi bước trong nước, nhờ vậy cá đuối có thể cảm nhận được sự chuyển động và rời khỏi đường đi trước khi gặp sự cố. Với người nuôi cá thì ngược lại, hầu hết tai nạn đều xảy ra ở tay và cánh tay khi họ làm vệ sinh bể cá hay bắt cá. Đôi khi đó chỉ là tai nạn ngẫu nhiên nhưng cũng có khi là do bất cẩn khi tiếp xúc với cá. Thậm chí gai trên mình cá đuối đã chết vẫn còn chất độc và rất sắc.

Các loại cá đuối được nuôi làm cảnh

Đa số cá đuối được nuôi cảnh ngày nay, và là trọng tâm của bài này, đều thuộc họ Potamotrygonidae, phân lớp mang tấm Elasmobranch mà chúng bao gồm hơn 22 loài thuần nước ngọt. Tại thời điểm hiện tại, còn rất nhiều điều để nghiên cứu về sự khác biệt giữa chúng, rằng chúng có phải là những phân loài hay quan hệ với nhau ở mức độ như thế nào. Có rất nhiều biến thể màu sắc, kích thước và hoa văn khác nhau. Cá đuối đen với những đốm trắng nổi bật, chẳng hạn như leopoldi, henlei và loài đuối đen đốm nhỏ itaituba ít phổ biến hơn phân bố ở vùng nước trong (clear water) phía nam sông Amazon. Hai trong số những loài có hoa văn ấn tượng là cá đuối hổ (tiger ray) dựa trên hoa văn nổi bật và đốm trên đuôi phân bố ở Amazon Peru và loài có hoa văn tương tự là cá đuối hoa (flower ray) phân bố ở phía bắc sông Amazon trong các nhánh sông vùng biên giới giữa Colombia,Venezuela và Brazil. Còn nhiều biến thể địa phương tuy hoa văn không đẹp bằng nhưng cũng rất thú vị. Cá đuối castexi, một trong những loài đa hình thái nhất với những dạng hoa văn hoàn toàn khác biệt, phân bố chủ yếu ở phía tây sông Amazon với những biến thể như otorongo (báo), motello (rùa), hawaiian, tigrinus và những biến thể khác được đặt theo dạng hoa văn xinh đẹp của chúng.

Cá đuối – hiểm họa với người này, báu vật với người kia

“Ở Amazon mọi thứ đều có thể”. Vào mùa nước rút, khi cá tụ vào những khu vực nhỏ, sông chính và kênh dẫn nước, là giai đoạn tương đối an toàn để đi đến những vùng xa xôi và khảo sát phân bố của cá đuối; nhưng giai đoạn này tương đối ngắn ngủi, chỉ khoảng từ 4 đến 5 tháng trước khi trời mưa trở lại và mực nước lại dâng cao một cách nhanh chóng. Phần lớn lưu vực sông Amazon còn chưa được khảo sát, và sự thay đổi dòng chảy của các con sông khiến cho việc xác định phân bố và quần thể cá ở Amazon hầu như là điều bất khả. Một vài quần thể cá đuối bùng phát mạnh đến độ trở thành hiểm họa đối với các bãi cát ven sông. Những bãi cát phổ biến ở Brazil phải mướn nhân công để tiêu diệt cá đuối, vốn thường tụ tập cả “bầy” nằm phơi nắng dưới cát trong vùng nước nông vào ban ngày, ngay nơi mà những người đi tắm qua lại. Nhìn chung, những con cá đuối này bị giết và để thối rữa, làm mồi cho những loài ăn xác thối (scavenger). Điều này chắc chắn là đáng tiếc bởi vì chúng có thể được đem bán cho thị trường cá cảnh và thu được khối tiền. Một vài biến thể cá đuối chỉ phân bố ở những vùng nhất định và rất hiếm, chẳng hạn như cá đuối trân châu (pearl ray). Cá đuối cũng là loài cá thịt quan trọng. Cả hai góp phần vào việc chính phủ Brazil đề ra hạn ngạch xuất khẩu cá đuối hàng năm. Tuy nhiên, hạn ngạch này thường gây ra nghịch lý. Bởi vì nhiều loài cá đuối đáng giá trên thị trường cá cảnh hơn rất nhiều so với thịt của chúng. Một con henlei, leopoldi hay cá đuối trân châu còn sống trên thị trường cá cảnh thường có giá hơn lượng thịt mà một làng tiêu thụ trong vòng một tuần hay đủ cung cấp sữa cho cả năm trời. Ngoài một số ngoại lệ, hầu hết các loài cá đuối đều có số lượng đông đảo trong môi trường phân bố tự nhiên của chúng và bị coi là hiểm họa, điều cổ xúy cho lối suy nghĩ rằng việc buôn lậu cá đuối vào mùa cấm hay khi hết hạn ngạch xuất khẩu là chấp nhận được. Luật cung cầu chi phối thị trường này, và giá bán lẻ cao làm gia tăng động cơ. Cá đuối lậu thường đắt tiền hơn và không mạnh khỏe bằng cá xuất khẩu qua những kênh hợp pháp bởi vì chúng phải trải qua quá trình vận chuyển cực kỳ khó khăn. Có rất nhiều câu chuyện về cá đuối (và cả những loài động-thực vật lậu khác) được giấu bên trong các can đựng dầu hay dưới khoang thuyền chài. Rất may là chúng không vừa với túi quần!

Kích thước hồ, cá nuôi chung và cho ăn

Một trong những điều hấp dẫn khi nuôi cá đuối trong bể cá cảnh là hành vi và sự thông minh của chúng. Một con cá đuối nước ngọt mạnh khỏe có thể nhanh chóng học hỏi cách nhận biết và lấy thức ăn từ tay chủ nhân. Cho một con cá đuối lớn ăn bằng tay là một trải nghiệm tuyệt vời đối với người thực hiện. Hiển nhiên, hình dạng “khác thường”, tính cách và vẻ đẹp của chúng cũng góp phần đem lại sự thú vị. Hầu hết cá đuối lớn rất nhanh và nếu được chăm sóc thích hợp thì chúng sẽ nhanh chóng phát triển đến kích thước mà một bể cá nhỏ không thể chứa nổi. Chúng cần bể cá có kích thước lớn, thậm chí ngay từ khi mới thả. Tốt nhất nên nuôi riêng cá đuối. Nuôi chung với các loài khác có thể gặp rủi ro. Một trong số những loài thường được nuôi chung là cá rồng, nhưng nếu chúng không có kích cỡ phù hợp với cá đuối thì có thể gặp vấn đề. Có một nguyên tắc chung áp dụng cho tất cả các loài nuôi cùng bể “nếu con gì vừa với miệng cá đuối thì sớm muộn cũng bị nó ăn thịt”. Nếu cá rồng quá lớn thì nó có thể tấn công cá đuối và biến chúng thành con mồi. Còn nếu cá rồng không đủ lớn thì đấy là cơ hội để cá đuối ăn thịt nó sau này. Một người bạn của tôi nhận được bài học đắt giá này khi con cá đuối hổ đường kính 55 cm của anh ăn thịt con huyết long 25 cm trị giá 2000 đô la. Cá chùi kiếng (pleco) cũng gặp phải vấn đề tương tự, hoặc là chúng sẽ bị cá đuối ăn thịt hoặc là chúng sẽ có món miễn phí là lớp nhớt trên lưng cá đuối, điều làm cá đuối căng thẳng, gia tăng nguy cơ nhiễm bệnh cơ hội qua các vết thương và làm cá chết một cách nhanh chóng. Cá đuối nước ngọt khỏe mạnh rất phàm ăn và chấp nhận nhiều loại thức ăn khác nhau. Thích hợp nhất là thức ăn tươi sống. Trùn đen (blackworm) và trùn đất được cá ăn ngấu nghiến. Tép ma (ghost shrimp) là món ăn ưa thích mà nó khiến những con cá đuối nhỏ quay mòng vì vui sướng. Một khi đã quen mùi, hầu hết cá đuối sẽ chấp nhận tôm đông lạnh và các loại thức ăn tương tự khác. Thịt cá mướp (smelt), cá hồi (salmon), sò ốc và các loại hải sản khác cũng được chấp nhận nhưng một số làm nước rất dơ nên cần thử nghiệm hoặc chỉ cho ăn trước khi thay nước. Cá đuối cũng chấp nhận thức ăn tự chế biến và thức ăn viên chìm chế biến sẵn. Cho cá ăn bằng tay là một trong những trải nghiệm thú vị, điều khiến người lãnh đạm nhất cũng phải trầm trồ. Cá đuối không có xu hướng hiếu chiến, nhưng có thể vẫy vùng khi được cho ăn bằng tay nên điều quan trọng là phải luôn phân biệt được đâu là đuôi và sao cho cá đuối nhận ra bạn để chúng không bị giật mình. Một hồi sau, cá đuối sẽ trở nên bình tĩnh, thân thiện và chủ động kiểm tra tay bạn để tìm thức ăn.

Thông số nước

Nước sông Amazon hầu như rất mềm với một ít khoáng chất. Chỉ nhờ lượng nước mưa khổng lồ mới ngăn độ pH giảm mạnh. Hầu hết địa bàn đều có độ pH xấp xỉ 6,5. Khi được thuần dưỡng, đa số cá đuối đều có thể thích nghi với nước máy và không đòi hỏi phải xử lý hóa học trước khi dùng. Tuy nhiên, chúng ăn nhiều và thường xuyên bài tiết nhiều chất thải nên chế độ chăm sóc rất quan trọng trong việc giữ nước và bộ lọc không bị tích cặn bẩn. Tôi khuyên bạn nên thay nước ít nhất 2 lần mỗi tuần, mỗi lần thay ít nhất 25% nước bể, bằng nước đã để hả. Thay nhiều hơn nếu hồ nuôi nhiều cá. Cá đuối nước ngọt dễ bị tồn thương nội tạng vì ngộ độc ammonia và nitrate do đó cần theo dõi những thông số này và duy trì chúng ổn định ở mức bằng 0 thông qua việc thay nước và bộ lọc sinh học chất lượng. Ngộ độc ammonia là một trong những nguyên nhân chính gây ra “cái chết thầm lặng” (silent death) theo lời tiến sĩ Ross trong cuốn sách của ông. Tổn thương này thường xảy ra trong quá trình vận chuyển vốn kéo dài đến hơn 36 giờ trong hộp kín. Cá đuối có thể sống thêm vài tuần rồi mới chết vì nguyên nhân này khi chúng bỏ ăn và mòn mỏi dần trước khi chết vì ngộ độc, và vì vậy đôi khi mọi người thấy khó hiểu về mối liên hệ giữa việc vận chuyển cá trong nước ô nhiễm và cái chết diễn ra sau đó.

Thuần dưỡng cá đuối nước ngọt, trang trí bể nuôi

Một số loài cá đuối nhạy cảm hơn so với những loài khác, và (cá đuối hổ) tương đối nhút nhát hơn, nhưng điều này có thể được khắc phục vì đa số cá đuối sẽ trở nên linh động một khi đã quen với môi trường thích hợp. Hầu hết mọi người không bao giờ phải lo lắng khi thuần dưỡng cá mới nhập về. Nếu bạn nhận được cá khỏe mạnh thì việc thuần dưỡng trong bể hay ao của bạn cũng không đến nỗi khó khăn lắm. Bạn chỉ cần một đoạn ống nhựa để hút nước chầm chậm từ hồ sang hộp/bịch đựng cá. Nước trong bịch cá sẽ đầy tràn, kết quả là nước bể sẽ dần dần thay thế nước cũ trong bịch. Duy trì từ 30 phút đến một giờ. Sự khác biệt giữa nước trong bịch và nước bể được thu hẹp dần. Khi hoàn tất, bỏ càng nhiều nước trong bịch càng tốt rồi nhẹ nhàng đặt bịch cá vào cá đuối Paratrygoncá đuối sứ (mắt nhỏ) nổi tiếng khó nuôi hơn các loài Potamotrygon. Những loài đặc hữu phổ biến ở sông Amazon gồm hystrix, motororeticulata. Nhiều biến thể được đặt tên chung chung là “teacup” (chén trà) vốn được dùng để gọi cá non và không ám chỉ loài nhất định nào. Chúng thường được chào bán trước tiên vì giá tương đối rẻ so với cá đuối xịn. Một số loài cá đuối xịn, chẳng hạn như leopoldi rất dễ nuôi, linh động và hung dữ, số khác, chẳng hạn như menchacaibể kính để cá tự bơi ra khỏi bịch. Tôi để nền bể trống nhưng hầu hết người chơi cá đều thích quang cảnh tự nhiên và trải nền. Điều quan trọng là tránh mọi thứ sắc cạnh, chẳng hạn như cát có lẫn silicate vì nó có thể làm bụng cá bị xước, khiến cá nhiễm bệnh và bị chết. Cát nhân tạo hiệu Estes được tráng bề mặt trơn tru với đủ loại màu sắc khác nhau rất thích hợp. Một số lần tôi trải nền phù hợp với màu sắc của cá đuối nước ngọt. Với cá đuối đen thì tôi sử dụng cát đen. Cá đuối có xu hướng điều chỉnh màu sắc cho phù hợp với nền đáy, thường nhạt hay đậm hơn một chút sau từ vài ngày đến vài tuần. Cá đuối có não tương đối lớn và là một trong những loài thuỷ vật thông minh nhất. Một bể cá được “sắp đặt” có thể kích thích chúng sục sạo quanh lũa và đá để kiếm thức ăn trông rất thú vị.

Lai tạo

Việc phân biệt giới tính rất đơn giản. Tương tự như các loài họ hàng là cá mập và cá đuối biển, cá đuối nước ngọt đực có thùy sinh dục (clasper) nằm ở hai bên và hơi chếch về bên dưới của gốc đuôi. Các thùy ở cá đực trưởng thành có thể nhìn thấy dễ dàng từ phía trên và ở cá đực non có thể nhìn thấy dễ dàng từ mặt dưới. Cá cái không có thùy sinh dục. Khi trưởng thành, cá đuối sinh sản bằng hình thức thụ tinh trong và đẻ ra cá con sau thời gian “mang thai” khoảng 3 tháng. Số lượng “bào thai” khoảng từ 2 đến 8 tùy thuộc vào kích thước và độ tuổi của cá bố mẹ. Dẫu không thường xuyên nhưng hàng loạt người nuôi cá đuối nước ngọt lẫn thủy cung công cộng trên khắp thế giới vẫn công bố việc lai tạo thành công nhiều biến thể cá đuối khác nhau. Như mọi loài động vật khác, sinh sản là nhu cầu sinh học bức thiết của cá đuối mà nó chỉ đòi hỏi đủ không gian và thật nhiều thức ăn cùng với điều kiện bể cá và chế độ chăm sóc thích hợp để khiến chúng cảm thấy thoải mái. Điều này cũng khiến việc ngắm cá thêm phần thú vị và khích lệ người nuôi cá.

Khách mua hàng vui lòng liên hệ: 0944948444 – 0983520387 – 0936996693

Khách mua Sỉ vui lòng liên hệ: 0943499444 – 0946285519

Tư vấn kỹ thuật: 0978918008 – 0978137069

Kiểm tra đơn hàng đã đặt vui lòng liên hệ: 024 6327 8080

Ngoài giờ hành chính vui lòng gọi: 0978918008

Trân trọng

Thái Hòa Aquarium

Văn Phòng & Cửa Hàng: Số 545 Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội, Việt Nam

Nhà Kho 1: Số 15 Vĩnh Phúc, Ba Đình, Hà Nội, Việt Nam

Nhà Kho 2: Số 75 Vĩnh Phúc, Ba Đình, Hà Nội, Việt Nam

Nhà Kho 3: Nhà D-72Ha, Vĩnh Phúc, Ba Đình, Hà Nội, Việt Nam

Trại Koi 1: Số 175 Nguyễn Hoàng Tôn, Tây Hồ, Hà Nội, Việt Nam

Trại Koi 2: Tổ 7 Cự Khối, Long Biên, Hà Nội, Việt Nam

Lưu ý: Cần phải có JavaScript với nội dung này.


【#2】Danh Sách Các Loại Cá Nước Ngọt Dễ Nuôi, Có Hiệu Quả Kinh Tế Cao

Danh sách các loại cá nước ngọt dễ nuôi

Cá trắm cỏ chủ yếu sinh sống ở tầng nước giữa và thấp, thức ăn chính của chúng là các loại cây xanh thân mềm, rau, cỏ, lá chuối, bèo tấm, lá sắn, thân cây chuối non băm nhỏ, rong… ngoài ra cá trắm cũng ăn các loại bột ngô, khoai, sắn, cám gạo… các loại động vật phù du như tôm, tép, ấu trùng cá…Cá nuôi sau khoảng thời gian 10 – 12 tháng đã có thể đạt trọng lượng 0,8 – 1,5kg.

Cá mè trắng là một loại cá nước ngọt thuộc họ cá chép có thân dẹp, vảy nhỏ, thân hình thon dài, trong cơ thể có tuyến tiết mùi tanh. Cá mè trắng có thể sống ở môi trường nước ngọt, dòng nước chảy yếu, khu ao, hồ, đầm, lầy, sông nhánh, đặc biệt chúng rất thích hợp với vùng nước yên tĩnh.

Cá sống ở tầng mặt và tầng nước giữa, thức ăn của chúng là các loại thực vật phù du, lá dầm, ngoài ra nó còn ăn các loại bột được xay mịn như: cám gạo, cám ngô, bột mỳ, bột sắn, bột đậu tương. Thời gian nuôi từ 10 – 12 tháng cá mè cho trọng lượng khoảng 0,5 – 1kg mỗi con. Đặc biệt với những nơi cá mè sống như sông Đà có những con nặng tới 15kg.

Cá chép sống ở bề mặt đáy của ao nuôi, thức ăn chủ yếu của chúng là các động vật dưới đáy như giun, tôm lột xác, ấu trùng muỗi … Tuy nhiên để cung cấp thêm chất dinh dưỡng cho cá có thể cho ăn thêm các loại thức ăn dạng hạt như ngô, thóc đã nấu chín.

Cá chép khi đến thời kỳ sinh sản chúng sẽ đẻ trứng trong ao. Cá nuôi sau 12 tháng sẽ có trọng lượng mỗi con từ 0,5 – 0,8kg.

Cá sống chủ yếu ở tầng giữa và tầng đáy của ao, đây là loài cá ăn tạp, thức ăn chủ yếu của chúng là mùn bã hữu cơ, các loại phân trâu, bò, lợn, gà… Ngoài ra chúng cũng ăn các loại thức ăn khác như bèo tấm, bèo dâu và các loại tinh bột cám.

Sau 12 tháng nuôi cá sẽ đạt trọng lượng trung bình mỗi con ít nhất 0,5kg và đến thời kỳ sinh sản chúng sẽ tự đẻ trứng trong ao.

Cá này sống ở tầng nước giữa và tầng đáy của ao, cũng giống như cá rô phi cá chim trắng cũng là loài cá ăn tạp, thức ăn của chúng đa dạng phong phú vì tính kén ăn thấp.

Đây là loài cá có nguồn gốc từ các nước có khí hậu nhiệt đới, vì thế môi trường thích hợp nhất để nuôi chúng là ở điều kiện nhiệt độ ấm áp, nhiệt độ thích hợp để cá phát triển tốt nhất là từ 21 – 42 độ C.

Nuôi cá chim trắng mang lại hiệu quả kinh tế cao vì tốc độ phát triển của cá khá nhanh, đối với cá giống có kích thước khoảng 5 – 7cm, nếu bà con nuôi tốt thì sau 3 – 4 tháng cá có thể đạt trọng lượng 0,8 – 1kg mỗi con.

Cá trôi Ấn Độ (Rohu) gần giống với cá trôi ta, đây là giống cá ăn tạp, thích sống ở tầng đáy, thức ăn chính của chúng là bã hữu cơ, bèo tấm, bèo dâu, rau muống non và các loại tinh bột như cám gạo, cám ngô, bột sắn.

Cá có thân hình cân đối, đầu múp, đỉnh đầu nhẵn, mõm tù, hơi nhô ra, rạch miệng rộng, viền môi trên và môi dưới phủ lớp thịt, có hai đôi râu, vảy cá tròn, xếp chặt chẽ, lưng có màu sẫm, môi và mõm đều trắng. Cá nuôi khoảng thời gian từ 10 – 12 tháng có thể đạt trọng lượng tối thiểu 0,8 – 1kg mỗi con.

Cá lóc bông là một trong các loài cá nước ngọt sinh trưởng và phát triển chủ yếu ở các tỉnh phía Nam, đặc biệt là vùng sông nước ĐBSCL, rải rác ở Tây Nguyên. Giống cá này ít xương, nhiều thịt, chất lượng thịt thơm ngon nên được thị trường ưa chuộng.

Cá lóc bông có tốc độ tăng trưởng nhanh, thân hình lớn, có thể đạt chiều dài 25cm, con lớn nhất lên tới 75 – 100cm. Cá có miệng to và rộng, đầu rắn. Cá lóc bông thích hợp nuôi trong ao hoặc bè với trọng lượng đạt từ 1 – 1,5kg/con/năm.

Cá ba sa có đầu bằng, mắt to, trán rộng, râu mép kéo dài tới gốc vây ngực hoặc quá một chút. Phần vây ở lưng và vây ở ngực có màu xanh xám. Ở nước ta giống cá này chủ yếu được nuôi ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, với thịt cá béo ngậy, thịt ngọt nên có thị trường tiêu thụ khá rộng, có giá trị xuất khẩu cao.

Nguồn thức ăn của giống cá này là cá tạp, cá con, giun quế, giun đất, cua ốc, côn trùng, rau củ, cám viên, phân động vật…

Cá bống tượng được nuôi trồng chủ yếu ở vùng ĐBSCL, Đồng Nai, sông Vàm Cỏ. Đây là giống cá có kích thước lớn, chất lượng thịt thơm ngon nên được khai thác nuôi thương phẩm để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường trong và ngoài nước.

Không chỉ nuôi được trong ao đất mà nó còn có thể nuôi thương phẩm trong bể xi măng với năng suất cao hơn, đem lại hiệu quả kinh tế cho các hộ dân.


【#3】Top 10 Loài Cá Thịt Nước Ngọt Có Giá Trị Kinh Tế Cao Và Được Nuôi Nhiều Nhất

1.1. Chọn giống cá chép

Loài cá chép Việt nuôi truyền thống ở nước ta là chép vảy hay chép trắng. Trong quá trình nuôi và nâng cao chất lượng đàn cá chép các nhà khoa học bằng phương pháp chọn lai giống đã tạo ra giống cá chép hai máu (giữa cá chép Việt và cá chép Hung) và cá chép ba máu (cá chép Việt, chép Hung và chép Indonexia).

Trong sản xuất hiện nay, người nuôi thường ưa chuộng nuôi cá chép 3 máu, do có đặc điểm về ngoại hình, kích cỡ, tốc độ lớn và hiệu quả kinh tế cao. Cá chép lai 3 máu phải được tạo ra sau quá trình chọn lọc và gìn giữ cẩn thận 3 dòng cá thuần là cá chép Việt, chép Hung và chép Ibdonexia. Vì vậy, không phải cơ sở cá giống nào cũng sản xuất được cá chép lai 3 máu.

1.2. Thức ăn của cá chép

Cá chép sống ở tầng đáy và tầng giữa. Lúc nhỏ, cá chép ăn các sinh vật phù du, ấu trùng và côn trùng. Ở giai đoạn trưởng thành, thức ăn của cá chép là các động vật đáy như nhuyễn thể giáp xác, côn trùng, ấu trùng, giun, củ, rễ và mầm non thực vật, mùn bã hữu cơ…

Trong sản xuất, cá chép có thể nuôi được với mật độ cao, do có thể chịu được ngưỡng ô xi thấp. Thức ăn nuôi cá chép rất đa dạng: Nước, bã đậu nghiền, bột ngũ cốc, thức ăn tổng hợp, phân bón…

Cá chép là loài cá có tốc độ tăng trưởng nhanh, sau 1 năm chăn nuôi từ cá giống có thể cho thu hoạch với trọng lượng từ 0,8kg đến 1,5kg.

Cá chép trưởng thành và bắt đầu sinh sản sau 1 năm nuôi. Chúng có thể sinh sản nhiều lần trong năm. Trong các ao nuôi, cá chép có thể sinh sản tự nhiên. Vào mùa xuân và đầu mùa hạ, gặp thời tiết thuận lợi, cá chép cặp đôi và tìm các cây cỏ thủy sinh để đẻ trứng. Vì vậy, trong các ao nuôi cá chép, đặc biệt là trong các ao rộng nếu không được làm sạch hàng năm, thu hoạch triệt để. Cá chép rất dễ bị thoái hóa do cùng nguồn gốc huyết thống. Người nuôi cá có thể tự sản xuất tự túc được giống cá chép nếu giữ được giống bố mẹ tốt.

Cá trắm cỏ hiện đang nuôi ở nước ta có nguồn gốc từ Trung Quốc, được nhập về năm 1958. Chúng sống ở tầng nước giữa và dưới, vùng ven bờ, trong các khu vực nước tương đối trong, có nhiều cây cỏ thủy sinh.

Trong điều kiện nuôi dưỡng, thức ăn sử dụng cho cá trắm cỏ là các loại cỏ non, bèo dâu, rau, lá sắn…Người nuôi cá có thể chủ động gây nuôi một số loại thực vật có chất lượng và năng suất cao làm thức ăn cho cá trắm cỏ như cỏ voi, bèo dâu, rau muống… Ngoài những loại thức ăn thực vật, cá còn ăn được các loại bột ngũ cốc, thức ăn tổng hợp. Tuy nhiên, cá trắm cỏ không có men tiêu hóa thức ăn tinh nên nếu nuôi bằng thức ăn chế biến tổng hợp sẽ không kinh tế (hệ số sử dụng thức ăn viên là 7), khó có thể nuôi theo hướng công nghiệp. Có thể nuôi cá trắm cỏ trong các mô hình như nuôi cá ao, nuôi cá ruộng và nuôi cá lồng bè.

Cá Trắm cỏ được coi là loài được nuôi phổ biến và đem lại giá trị kinh tế cao nhất hiện nay.

Hiện nay, ở nước ta tồn tại 2 loài cá mè trắng là cá mè trắng Việt Nam và cá mè trắng Hoa Nam ( Trung Quốc). Trong tự nhiên và cả trong sản xuất, 2 loài này đã bị lai tạp với nhau. Mới đây, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1 đã có công trình nghiên cứu nhằm chọn lọc lại 2 loại cá mè trắng riêng biệt.

Cá mè trắng sống ở tầng nước giữa và trên. Giai đoạn cá nhỏ, thức ăn của cá mè trắng là động vật nổi và thực vật nổi. Giai đoạn trưởng thành, thức ăn của cá mè trắng là thực vật nổi và một ít động vật nổi, tỉ lệ động vật nổi trong thức ăn của cá mè trắng là rất ít. Cá mè trắng cũng có thể ăn được các loại thức ăn dạng bột như cám gạo, bã đậu…Tuy nhiên, ít có khả năng nuôi theo hướng công nghiệp.

Trong ao nuôi, tốc độ sinh trưởng của cá nhanh. Cá 1 năm tuổi đạt cỡ từ 0,5kg – 0.9kg, 2 năm đạt cỡ 1,5kg- 1,9kg, 3 năm đạt cỡ 2 – 4kg. Cá cái thành thục ở tuổi thứ 3, nhưng không sinh sản tự nhiên tỏng ao nuôi nước tĩnh.

Cá mè hoa có nguồn gốc từ Trung Quốc. Cùng tuổi với cá mè trắng, cá mè hoa có kích thước và khối lượng lớn hơn. Trong điều kiện ao nuôi, cá mè hoa 1 tuổi có thể nặng 1,5kg-3kg, cá 2 tuổi nặng trên 4- 5kg.

Cá mè hoa sống ở tầng nước giữa và trên. Thức ăn chủ yếu của cá mè hoa giai đoạn nuôi thương phẩm là động vật phù du, một ít thực vật phù du. Thông thường, cá mè hoa được nuôi ghép với cá mè trắng, trắm cỏ, rô phi, chép..trong các ao đầm có diện tích rộng. Tỉ lệ ghép cá mè hoa trong cá ao nuôi thấp, chỉ nên chiếm 3- 5% tổng số lượng cá trong ao.

Cá cái tuổi thứ 3 thành thục nhưng không sinh sản tự nhiên trong ao.

Cá rohu (cá trôi Ấn Độ) được nhập vào Việt Nam từ năm 1982, là loài cá ăn tạp, có sức chịu đựng tốt với môi trường.Cá sống ở tầng đáy, khi nhỏ, thức ăn của cá rohu chủ yếu là động vật phù du. Từ khoảng 1 tháng tuổi, cá chuyển dần sang ăn mùn bã hữu cơ. Giai đoạn trưởng thành, thức ăn chính của cá rohu là mùn bã hữu cơ.

Trong điều kiện nuôi, cá rohu có thể sử dụng các loại thức ăn như cám gạo, bột ngo, bã đậu, thức ăn tổng hợp… Cá rohu thích hợp với các ao đầm có nhiều mùn bã hữu cơ, ruộng nuôi cá một vụ…

Cá rohu nuôi trong ao, 1 năm tuổi đạt cỡ 0,5 – 1kg, 2 năm tuổi đạt cỡ 1- 2kg. Cá cái tuổi thứ 3 thành thục nhưng không có khả năng sinh sản tự nhiên trong ao.

Cá Mrigal cũng là một loài cá nhập nội. Đặc điểm sinh học chính tương tự cá rohu. Chúng sống ở tầng đáy, khi nhỏ ăn động vật phù du, khi trưởng thành ăn chủ yếu sinh vật đáy và mùn bã hữu cơ. Trong điều kiện nuôi, cá Mrigal 1 năm tuổi đjat 0.5 – 1kg. Cá cái thành thục ở tuổi thứ 3 nhưng không thể tự sinh sản trong ao.

Cá trôi phân bố tự nhiên trên các sông suối miền Bắc. Trong thủy vực tự nhiên, cá trôi sống ở tầng đáy, ăn mùn bã hữu cơ, tảo bám đáy, rêu… Trong cá ao nuôi, chúng ăn mùn bã hữu cơ, các loại thức ăn trực tiếp như các loại nột hạt, bột củ, cám tổng hợp, bã đậu, bã bia…

Cá trôi Việt sinh trưởng chậm hơn so với các loài cá khác. Cá 1 năm tuổi có khối lượng 100 – 150gam, cá 2 năm tuổi nặng 200 – 350gam. Cá trôi thành thục ở tuổi thứ 3 nhưng cũng không có khả năng tự sinh sản trong ao.

Cá chim trắng nước ngọt có nguồn gốc từ các sông suối vùng Amazon – Châu Mỹ, được nhập vào Việt Nam năm 1998 qua Trung Quốc. Hình dáng của cá chim trắng nước ngọt gần giống cá chim biển.

Trong ao, cá chim trắng sống ở cá tầng nước giữa và đáy, kiếm ăn theo đàn. Phổ thức ăn của cá chim trắng rất rộng. Lúc còn nhỏ, cá chim trắng ăn chủ yếu động vật phù du, giai đoạn trưởng thành cá ăn tạp. Các loại thức ăn của cá chim có: rau cỏ, mùn bã, động vật thủy sinh, bột ngũ cốc, thịt động vật… Có thể nuôi cá chim trắng trong các mô hình nuôi cá ao, nuôi cá ruộng và nuôi cá lồng.

Cá chim trắng là loài cá dễ nuôi, tốc độ sinh trưởng nhanh. Cá nuôi 1 năm có thể cho cỡ thu hoạch từ 1 – 2kg. Cỡ thương phẩm trên thị trường từ 0.8 – 1,5kg. Khả năng chịu rét của cá chim trắng tương đối kém, không nên nuôi cá thương phẩm qua Đông. Muốn giữ cá giống qua Đông phải có biện pháp chống rét cho cá.

Tuổi thành thục sinh dục của cá chim trắng là tuổi thứ 4, nhưng cá chim trắng không có khả năng sinh sản tự nhiên trong ao.

Cá tra phân bố tự nhiên ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, được di giống ra miền Bắc từ năm 1979, phổ biến từ năm 2001 – 2002. Đến nay, cá tra đã thành đối tượng nuôi tương đối phổ biến ở các tỉnh phía Bắc.

Khả năng chống chịu với môi trường của cá tra tương đối tốt. Chúng sống được trong các ao tù bẩn. Cá tra là loài cá ăn tạp, phổ thức ăn tất rộng: các loại thức ăn động vật, rau bèo, phế và phụ phẩm nông nghiệp, các loại bột ngũ cốc, các loại thức ăn tổng hợp, phân chuồng…

Cá tra có thể nuôi ao, nuôi lồng cho năng suất cao, sản lượng lớn

Tốc độ sinh trưởng của cá tra tương đối nhanh. Cá 1 năm tuổi có thể đạt 1 – 1,5kg/con.

Hiện nay, nước ta đã nghiên cứu thành công kỹ thuật cho sinh sản nhân tạo đối với cá tra, do vậy lượng con giống có thể chủ động được. Ở các tỉnh miền Bắc hiện nay, giống cá tra đều được đưa ra từ các tỉnh miền Nam.

Rô phi là loài cá ăn tạp. Trong tự nhiên, chúng ăn các loại động vật phù du, động vật đáy, thực vật thủy sinh, mùn bã hữu cơ… Trong nuôi trồng, các loại thức ăn người ta dùng để nuôi cá rô phi có: phân chuồng, rau bèo, các loại bột ngũ cốc, thức ăn tổng hợp…

Rô phi là loài cá có giá trị kinh tế cao, nên được ứng dụng nuôi rất rộng rãi. Rô phi có thể nuôi trong ao, trong ruộng, tỏng lồng. Cũng có thể nuôi ghép hoặc nuôi thâm canh cá rô phi.

10.1. Nguồn gốc của cá Rô Phi

Các tỉnh miền Bắc nước ta đã nuôi cá rô phi từ đầu những năm 1950, nhưng cá rô phi nuôi từ đó là loài rô phi đen. Loài cá này sinh sản nhanh, cỡ thu hoạch nhỏ nên hiện nay không được ưa chuộng. Người ta đang bằng mọi cách loại bỏ loài cá này ra khỏi ao nuôi của mình.

Cá rô phi đang được ưa chuộng hiện nay là một trong các dòng rô phi vằn. Gần đây, có thêm giống rô phi lai được nhập về từ các tỉnh miền Nam Trung Quốc.

10.2. Đặc điểm của cá Rô Phi

Các dòng của loài rô phi vằn có chung đặc điểm là lớn nhanh, đẻ thưa , cỡ thu hoạch lớn hơn so với cá rô phi đen. Người ta đang chú ý nuôi nhiều nhất đến rô phi vằn dòng Gift, được Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I nhập về và nghiên cứu chọn giống từ năm 1994. Con giống rô phi vằn dòng Gift có 2 loại: loại đã được xử lý giới tính (rô phi đơn tính đực) và loại rô phi không được xử lý giới tính (rô phi “thuần”)

Rô phi lai kể trên là con lai giữa 2 loài đã được chọn giống thuần là rô phi vằn và rô phi xanh. Loại rô phi này có đặc điểm là tỉ lệ cá đực trong đàn cao, tốc độ sinh trưởng nhanh và cỡ thu hoạch lớn.

Cá rô phi có phổ thức ăn rộng, lớn nhanh, ít bệnh, thời gian nuôi ngắn. Chất lượng thịt cá cao, không có xương dăm, là loài cá có nhiều ưu điểm để nuôi theo hướng công nghiệp.

Rô phi sinh sản sau 6 tháng tuổi và có thể sinh sản tự nhiên trong ao. Do vậy kiểm soát mật độ cá rô phi trong ao rất quan trọng. Các biện pháp để hạn chế số lượng cá rô phi trong ao là: nuôi cá rô phi đơn tính, đánh tỉa cá lớn trong các ao nuôi rô phi thuần, thả cá dữ (như cá quả)…


【#4】Danh Sách Các Loại Cá Cảnh Nước Ngọt Dễ Nuôi

Danh sách những loại cá cảnh nước ngọt dễ nuôi

Các dòng cá vàng

loại cá cảnh nước ngọt dễ nuôi được nuôi khá phổ biến giá cả phải chăng cá vàng dòng này có rất nhiều loại dễ nuôi và dễ chăm sóc

Hình thức sinh sản đẻ trứng giá ngoài thị trường giao động trong khoảng 10 – 15k / 1 cặp cá nhỏ 50 – 80k / 1 cặp cá to đối với dòng cá vàng thường đến những dòng cá nhiều người đam mê cá vàng săn tìm có giá vài triệu một đôi như dòng cá vàng ranchu

Cá vàng 3 đuôi có nhiều loại : vàng mắt lồi , cá vàng bờm sư tử , cá vàng ba đuôi thường, Rukin , lan thọ , ngọc trai, hạt đỉnh hồng , oranda , Ranchu , pinpong……..

Cá mún là loại cá nhỏ có rất nhiều màu sắc khác nhau dễ nuôi dễ chăm sóc với thân hình nhỏ bé cá mún có thể sống trong bể thủy sinh mini.

Cá mún đẻ con , ăn tạp ,dễ chăm sóc giá ngoài thị trường từ 4k – 5k /cặp

Cá mún thả bể thủy sinh nên chọn các loại cá trung bình sẽ đẹp hơn các loại cá to.

Các loại cá Kiếm

Cá Kiếm hay còn được gọi là cá đuôi kiếm có rất nhiều màu sắc khác nhau xong phổ biến nhất là màu đỏ. Giống cá này đẻ con cá đực có đuôi kiếm ở phía sau thân hình thon nhỏ hơn cá mái

Cá kiếm sinh sản rất nhanh chịu rét kém

cá kiếm được chia thành một số loại như : cá kiếm thường hay bán ở cá của hàng cá cảnh có màu đỏ nhạt vàng … giá từ 5k – 7k / cặp, cá kiếm đỏ mắt đỏ giống cá kiếm này to hơn và có màu đỏ xẫm mắt đỏ giá từ 20k – 30k/ cặp , kiếm koi màu giống cá koi giá 30 -40k / cặp…

Cá Hắc Moni cũng là loài cá cảnh nước ngọt dễ nuôi có khả năng sinh sản tốt cá có màu đen tuyền và chia làm 2 loại : cá đuôi thường và cá đuôi én. sở dĩ chia như thế là vì hình dạng đuôi của chúng giá cá hắc moni trên thị trường vào khoảng 5k – 6k / 1 cặp cá hắc moni đuôi én thì đắt hơn một chút giá vào khoảng 6 k- 7k

Cá sinh sản phát triển tốt vào mùa hè và thích sống ở những nơi nhiều ánh sáng như bể ngoài trời. chịu rét kém nếu không có sưởi vào mùa đông cá có thể chết hàng loại và có thể chết hết

Các loại cá bảy màu

Cá bảy màu là loài cá cảnh nước ngọt dễ nuôi được rất nhiều người nuôi cá ưa chuộng vì cá dễ nuôi sinh sản tốt giá cả phải chăng hầu như đều có bán tại các cửa hàng cá cảnh trên khắp mọi nơi giá của một đôi cá bảy màu vào khoảng từ 5000 – 7000 đồng.

Cá bảy màu rất phong phú về màu sắc và chủng loại dân chơi cá chia cá bảy màu thành 3 loại chính là bảy màu chợ ( có bán tại tất cả cửa hàng cá cảnh ) bảy màu rừng và bảy màu thuần chủng : loài này khá hiếm và đắt các dòng cá thuần chủng thường được nhập về từ thái lan có cặp có giá đến vài triệu đồng


【#5】Lắp Đặt Bể Cá Thủy Sinh Nước Ngọt Tại Hồ Chí Minh

Lắp đặt bể cá thủy sinh nước ngọt tại Hồ Chí Minh

Với sự phát triển của công nghệ ngày nay cùng với đời sống xô bồ giữa chốn đô thị ở thành phố Hồ Chí Minh. Không vì vậy mà thú chơi cá cảnh hay các bể cá thủy sinh bị biến mất, mà nó còn ngày càng phát triển nhờ phong trào nuôi cá ngày càng được ưa chuộng, cũng như ngày càng có nhiều phụ kiện thiết bị giúp cho việc nuôi cá trở nên dễ dàng hơn. Và Hồ cá hải sản Ông Giàu có dịch vụ lắp đặt bể cá thủy sinh nước ngọt để đáp ứng nhu cầu nuôi cá cảnh của nhiều người bận rộn với công việc nhưng vẫn muốn có bể cá thủy sinh đẹp.

Giới thiệu về bể cá thủy sinh nước ngọt:

Bể cá thủy sinh là loại bể kết hợp giữa việc trồng các loại cây thủy sinh (các loại cây cỏ sống trong môi trường ngập nước như rong, rêu hay các loại bèo) với việc nuôi các loại cá nước ngọt phù hợp nhằm tạo nên sự độc đáo, đem đến ngôi nhà một bức tranh thiên nhiên tươi mát.

– Bể cá thủy sinh thực sự là một hệ sinh thái thu nhỏ khi trong bể có sự phát triển song song và bổ trợ nhau của động và thực vật trong bể. Đây là một ao cá thu nhỏ nhân tạo được con người tự tạo thành. Việc chăm sóc cho bể cá thủy sinh cũng phức tạp hơn các loại bể cá khác.

– Bể cá thủy sinh ngoài việc nuôi cá và các loại cây được sắp xếp theo một bố cục để tạo nét tự nhiên cho bể, chúng ta còn có thể nuôi được nhiều loài động vật khác như rùa kiểng, tôm, tép kiểng hay một số động vật nhỏ khác.

– Việc chọn cá nuôi trong bể thủy sinh cũng cần được lựa chọn kỹ càng hơn để không ảnh hưởng đến các loại cây cỏ trong bể.

– Bể thủy sinh còn là một vật phong thủy tốt đối với gia đình người nuôi khi có thể mang lại may mắn, tiền tài cũng như phúc lộc cho ngôi nhà.

Các bước để lắp đặt bể cá thủy sinh nước ngọt:

+ B1) Làm nền, lót phân, và tạo bố cục cho bể thủy sinh.

+ B2) Cho nước vào hồ sau đó thì trồng các loại cây thủy sinh cần thiết vào bể.

+ B3) Nếu có nuôi cá thì đầu tiên chúng ta phải cho các loại cá nhỏ vào để thử nước đã đạt chuẩn chưa. Sau đó chúng ta lắp đặt hệ thống máy, lọc, đèn chiếu.

+ B4) Vớt bớt các cặn và chất bẩn trong bể chính là bước cuối cùng.

+ B5) Chọn các loại cá phù hợp cho bể thủy sinh mà chúng có thể sống cùng trong 1 bể rồi cho vào bể. Bắt đầu quá trình chăm sóc của riêng bạn.

Giá lắp đặt bể thủy sinh từ 5.000.000vnđ – 15.000.000vnđ tùy vào kích thước và loại bể.

Hãy liên hệ ngay cho chúng tôi qua số điện thoại Hotline để nhận được dịch vụ lắp đặt bể cá thủy sinh tại nhà tốt nhất và giá thành rẻ nhất từ Hồ Cá Hải Sản Ông Giàu.


【#6】Cá Cảnh Nước Ngọt Và Kinh Nghiệm Nuôi Dưỡng

Muốn nuôi cá cảnh nước ngọt trước tiên bạn cần trang bị cho mình một vài kiến thức cơ bản. Đây là bài hướng dẫn khái quát và các kiến thức, kinh nghiệm nuôi cá cảnh nước ngọt từ bể nuôi, môi trường nước, không khí, ánh sáng, thức ăn cùng kỹ thuật nuôi cá con và những cách phòng, chữa bệnh cho cá.

1. Chuẩn bị bể nuôi

Trước khi cho nước vào bể nuôi phải xử lý khử trùng để tránh cho cá nuôi một số bệnh nguy hiểm, cá mới mua về thường chứa trong túi nylon. Cần ngâm túi nylon cá vào nước nuôi cá cỡ 20 phút cho cá quen với môi trường nước mới. Khi cá đà quen nước từ từ mở rộng túi bao cho cá bơi nhẹ nhàng sang hồ nuôi.

Vệ sinh hồ

Tẩy bể bằng vòi: tiêu diệt hay ngăn chặn sự phát triển của tảo hay thực vật thủy sinh có hại cho cá. Ngoài ra còn nhiều tác dụng khác tạo nên môi trường ổn định cho những phản ứng hóa học làm lắng tụ những thể lơ lửng trong nước v.v…chọn những ngày nắng ráo tẩy vôi, sử dụng lượng vôi 0,5g/cm khối tác dụng diệt, nhưng mầm bệnh, hoặc tẩy bằng muối xong rửa nước nhiều lần cho sạch.

Muốn làm vệ sinh hồ cá trước tiên phải chuẩn bị sẵn một vật dụng chứa chất lượng nước giống như loại nước mà cá đang sống. Khi vớt cá sang hồ mới cần hai cái vợt, một cái để chặn và một cái để vớt cá (thao tác này thực hiện thật nhẹ nhàng và nhanh nhẹn tránh làm cá mệt). Không nên vớt cá khi nước trong hồ đầy.

Khi đã xả hết nước trong hồ ra, dùng miếng mút để rửa sạch hồ va cả nắp hồ. Chú ý không được dùng xà phòng để rửa hồ. Nếu phát hiện cá bị nhiễm bệnh phải tẩy hồ như cách tẩy trên.

2. Nước

Trong việc nuôi cá dù là cá cảnh biển hay cá cảnh nước ngọt thì nước là yếu tố quan trọng đáng quan tâm, nước dễ hòa tan nên chứa nhiều chất hữu cơ và chất khoáng.

Nuôi cá cảnh nước ngọt thích hợp với nước ở những nơi đất sơ khai vì lượng muối khoáng, calium magnesium nhỏ.

Nước có nhiều chất muối khoáng, calcium magnesium là loại nước “cứng” không phù hợp với một số cây thủy sinh. Nước mưa, nước giếng, nước ao hoặc nước máy cần xử lý trước khi cho vào bể nuôi cá cảnh nước ngọt.

Độ pH trong bể nuôi cá

Sự ion hóa có tầm quan trọng trong việc nuôi cá cảnh nước ngọt và trồng cây thủy sinh trong bể nuôi.

Nước thích hợp nuôi cá nước ngọt có độ pH từ 6,5 đến 7,5 và nước mặn từ 7,9 – 8,5

Nước máy có độ pH trung bình 7,2 nên thích hợp cho việc nuôi cá cảnh nhiệt đới.

Nhiệt độ nước trong bể nuôi cá

Nhiệt độ nước thay đổi tùy theo cây thủy sinh trồng trong bể và cá nuôi.

Bể nuôi cá cảnh nước ngọt ở nước ta nhiệt độ tùy theo từng nơi nhưng trung bình không dưới 18°c Và không cao hơn 30°c nên có thể nuôi tất cả các loại cá nhiệt đới chúng đều thích nghi với khí hậu vùng Đông Nam Á.

Tùy theo từng loại cá và nhiệt độ ngoài trời tạo ra nhiệt độ phù hợp với loại cá có xuất xứ khắp nơi trên thế giới, người ta có thể theo dõi và điều chỉnh nhiệt độ trong bể tăng hoặc giảm thường xuyên bằng nhiệt kế sau đó dùng máy sưởi ấm bằng điện để tăng nhiệt dộ.

Khi nuôi cá cảnh nước ngọt ngoại nhập có biên độ nhiệt độ nước giới hạn trong phạm vi hạn hẹp.

Chất lượng nước:

Nước máy: Có độ pH = 7,2. Nhiệt độ trung bình nhưng trong nước có chất clo diệt khuẩn phòng bệnh được sử dụng cho con người, nên chưa đủ yếu tố bảo đảm nuôi cá (cần gạn lọc và để cho khí clo thoát ra ngoài một ít).

Nước giếng: Là nước ở nơi sơ khai do ít chất muối khoáng và calcium, magnesesium nên thích nghi với việc nuôi cá cảnh nước ngọt.

Lọc nước

Nước máy trước khi cho vào bể nuôi nên gạn lọc đề nơi thoáng khí ngoài nắng 24 giờ (bể chứa nước cần rửa sạch và nước trong bể luôn luôn sạch người ta dùng bình lọc sinh học nhờ tác động của vi sinh vật như sỏi, than, cát rửa sạch (loại bỏ những chất dơ bẩn trong nước, có độ trong phủ pha lê). Ngoài ra người ta có thể dùng bình lọc hiện đại hay bình lọc ngoài có gắn xi phông rất phổ thông.

Đối với những loại cá cảnh nước ngọt có nguồn gốc nhiệt đới như ở nước ta hoặc những loại ngoại nhập đã được thuần hóa thì nhu cầu nhiệt độ thích hợp cho cá nuôi 20 – 28nc. Biến dộng nhiệt độ hơn l’c trong 1 giờ có thể làm cá bị yếu và bị nhiễm bệnh.

3. Không khí

Các chất khí hòa tan trong nước gồm: carbon, nitơ, oxy, đioxit, sunfua hiđro… tùy theo nồng độ các chất khí trên mà ảnh hưởng có khác nhau đến sinh trưởng và phát triển của cá nuôi.

Đioxit cacbon có trong nước do xâm nhập từ không khí, sự hô hấp thủy sinh vật cũng như sự phân hủy chất hữu cơ. Nó ngăn cản sự hô hấp và gây chết cá ở nồng độ 100-200 ppm, với nồng độ 50-100 ppm gây nguy hiểm cho cá nếu kéo dài. Hàm lượng oxy càng thấp thì sự tác động của đioxit cacbon càng nghiêm trọng.

Sunphua hydro: Sinh ra do sự phân giải protein trong điều kiện yếm khí, nó gây yếu oxy đột ngột trong nước với nồng độ gây độc 1ppm, nồng dộ Sunphua hydro tăng làm hô hấp cá giảm nhịp như bị rối loạn, cá tiết nhiều nhớt.

Dùng máy sủi oxy hổ trợ cho máy lọc, nó có nhiệm vụ hòa tan khí oxy vào nước và là phương tiện duy trì sự sống cho cá cảnh nước ngọt.

4. Ánh sáng

Nuôi cá cảnh trong ao hồ, hồ kính, đều cần phải điều tiết lượng ánh sáng vừa phải. Ánh sáng cho hồ cá nếu bị thừa thì thực vật thủy sinh phát triển nhanh và nước trong hồ trở nên xanh bám lên thành kính làm mất vẻ đẹp và khó nhìn thấy cá bơi lội trong hồ. Tùy theo tuổi cá để có độ ánh sáng phù hợp cho cá cảnh nước ngọt.

Ánh sáng còn làm tăng nhiệt độ và giảm lượng oxy hòa tan ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của cá nuôi và dẫn đến chết cá. Nuôi cá cảnh nước ngọt trong hồ kính cần phải có ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp vào hồ (lh/lngày) (nếu thuận tiện nên để gần cửa sổ). Thường người ta dùng ánh sáng đèn huỳnh quang để cung cấp và tạo thêm vẻ đẹp hấp dẫn cho hồ : (dùng đèn huỳnh quang để tạo thêm nhiều màu, đèn thường gắn bên trong nắp hồ kính).

– Đèn thường: người ta dùng bóng đèn tuýt có sợi dễ lắp dặt nhưng ánh sáng chiếu ngắn và dễ tăng nhiệt độ nước.

– Đèn huỳnh quang: phân phối đều ánh sáng tạo nhiều màu sắc khác nhau làm tăng giá trị màu sắc của cá còn giúp cây thủy sinh tăng truởng tốt nhờ sự chiếu sáng có một số tia sáng dài.

– Đèn led: phân phối ánh sáng cực đại đến một vị trí và tỏa ra xung quanh, cường độ ánh sáng mạnh nhưng không làm tăng nhiệt độ nước.

Ánh sáng cần sử dụng vừa phải, người ta còn dùng sơn trắng để sơn phía trong chao đèn hay có thể phủ lên đèn một lớp kim loại phản chiếu, cần giữ cho tấm kính sạch để tận dụng tối đa cường độ ánh sáng đồng thời nước trong bể nuôi luôn sạch và trong cũng là yếu tố quan trọng của sự chiếu sáng.

5. Thức ăn của cá

Trong môi trường sống tự nhiên cá có thể sống sinh trưởng và phát triển bình thường, đối với những loại cá cảnh vì môi trường sống bị thu hẹp nên thức ăn cho cá tự nhiên bị hạn chế. Cho nên cần bổ sung thêm thức ăn bên ngoài vào cho cá, cũng tùy theo loại thức ăn, nguồn gốc và cách chế biến. Do đó người ta chia làm ba loại thức ăn chính:

Thức ăn có nguồn gốc động vật:

– Côn trùng, trùng chỉ, trùng bánh xe, cung quăng, giun bùn, giun ống thức ăn chế biến từ thịt dộng vật….

Thức ăn có nguồn gốc thực vật:

– Các loại bèo, cải xà lách, các loại rong.

– Các loạt hạt đậu như: đậu phộng, đậu đen, đậu xanh, các phụ phẩm xay xát, (cám gạo, cám bắp…) và các sản phẩm của công nghiệp dầu (bánh dầu đậu phộng, đậu nành). Để tăng tác dụng thức ăn gốc thực vật phải chế biến cho thức ăn trở thành dễ tiêu.

Ngoài ra còn có các phương pháp chế biến thức ăn cá từ chỗ không thích hợp thành thức ăn hợp khẩu vị. Phương pháp chế biến bằng cơ học.

Muốn làm tăng diện tích tiếp xúc giữa thức ăn và men tiêu hóa phải xay nhỏ, cắt nhỏ, ngâm nước.

Phương pháp hóa học.

Xử lý bằng axit, nấu sôi, một phần thức ăn bị phân giãi cho ra các loại đường.

Phương pháp chế biến bằng vi sinh vật.

Ngoài các vi sinh vật còn tạo ra các hoạt chất sinh học như hocmon sinh trưởng hoặc một số chất có mùi thơm kích thích sự tiêu hóa, giảm tỷ lệ cảm nhiễm đường ruột. Do đó quá trình lên men của vi sinh vật có tính chất dinh dưỡng cao, tăng đạm vitamin. Vi sinh vật tạo ra một số axit, hữu cơ như axit laetic, propyonic các chất này kích thích sự tiết men tiêu hóa.

6. Sự sinh sản của cá trong bể nuôi

Sự sinh sản của cá cảnh nước ngọt khá phong phú. Một số cá đặt trứng đặt lên giá thể, một số làm tổ một số lại phân tán trứng có một số lại ngậm trứng vào miệng. Ngoài ra còn có một số lại ăn trứng vừa đẻ xong, cũng có một số đẻ con.

Do đặc điểm sinh lý của mỗi loại cá đều có sự khác nhau nên kỹ thuật nuôi và cho cá đẻ ở mỗi loại đều có sự khác nhau, trong mục này, để giúp các bạn đọc hiểu về sự sinh sản của cá cảnh nước ngọt chúng tôi sẽ nêu đặc điểm khái quát sinh học của các đối tượng nuôi phổ biến hiện nay và đưa ra kỹ thuật sinh hoạt sâu trên từng đối tượng (xem phần bí quyết cho cá đẻ ấp trứng và nuôi cá con của kỹ thuật nuôi cá dĩa).

Trước khi cho cá đẻ, người nuôi cá đã chọn sẵn cá khỏe, có màu sắc đẹp vây cứng cáp… Tìm đúng cặp (1 trống – 1 mái) chuẩn bị bể và nhiệt độ nước, cùng chất lượng nước trong hồ cá được nuôi. Khi ghép đôi cá đẻ, người ta tách riêng cặp này với bầy cá đang nuôi, chăm sóc và cho ăn đặc biệt đến thời kỳ sinh sản, sẽ cho cá cái vào bể và ngăn với cá đực bằng lớp kính thủy tinh chờ đúng lúc sẽ cất kính ngăn cho chúng tiếp xúc nhau dễ dàng và tiếp tục việc sinh sản.

Người ta có thể ấp trứng nhân tạo bằng cách đặt miếng đá bọt gần trứng để dòng nước chảy thay thế quạt vây của cá bố mẹ như vậy vẫn đủ khí oxy để sinh trưởng.

Tùy theo chủng loại cá đẻ, có loại cá bố và mẹ có thể chăm sóc cho nở tất cả con nữa. Tốt nhất nên tách cá cái ra khỏi bể sau khi trứng đã thụ tinh xong, cá đực thường làm nhiệm vụ của người cha lót cho tổ và trứng, có thể cá đực không ăn trong suốt thời gian này. Thường cá đực thực hiện trách nhiệm làm cha tốt hơn cá cái làm mẹ.

Chú ý: trường hợp cá cái chửa lâu không đẻ, do cá đực chưa phát dục đủ. Khi bụng cá cái to dần nếu có cá đực phóng tinh, bụng cá cái biến màu sẫm hơn và không lâu sẽ đẻ. Nếu bụng cá cái to mà không sẫm màu không những không có thể đẻ mà còn có nguy cơ bị chết.

7. Kỹ thuật nuôi cá con

Lúc cá mới bắt đầu bơi lội không cần cho ăn vội.

Hiện nay người ta đã chế biến đủ loại thức ăn riêng cho từng loại cá mới nở tùy kích cỡ. Thức ăn tốt nhất vẫn là Artemia, cá con cần ăn liên tục và lớn nhanh sẽ tìm ăn các loại thức ăn tổng hợp, ngoài ra còn phải cần che gió lùa cho cá con. Thay nước thường xuyên cho cá con cỡ 3-4cm. Cá lớn dần cần tăng hệ thống lọc nước, thông khí và loại bỏ cá yếu. Chọn cá khoẻ, màu sắc đẹp để nuôi

Cá bột: cho đủ thức ăn vi sinh vật, đối với cá lia thia xiêm ở giai đoạn cá bột cho ăn như sau: cho vài lá cải xà lách vào 1 lon nước cống để hai ngày cho cá có mùi hôi mỗi ngày cho 2 ml (nửa muỗng cà phê). Nước này vào khạp nuôi cá bộ. Vì nó chứa loại vi sinh vật rất nhỏ để nuôi cá bột.

Cách thứ hai, cất vài đoạn đậu côve luộc chính cho vào nước hồ nuôi cá (múc riêng) để vài hôm dậu côve sẽ nở và xung quanh có lớp màu trắng, đem bỏ vài khúc 1-2 cm vào hồ nuôi cá bột. Đến khi cá lớn có thế ăn cung quăng, trùng chỉ, các loại nhuyển thể, bột cá, bột nhộng tằm…Nếu cho ăn các loại thức ăn động vật đúng theo liều lượng được hướng dẫn sẽ làm tăng cường sinh lực của cá và sẽ tăng màu sặc sỡ.

8. Bệnh của cá và cách chữa bệnh thường gặp ở cá

Cách trị thông thường: Cho cá cảnh nước ngọt tắm trong dung dịch riboflavin và thay nước.

Bệnh miệng: Miệng cá đóng một lớp dày màu trắng hay lây lan

Cách trị: Hủy cá bệnh, thay nước, các con cá chưa bị bệnh tắm một trong những dung dịch nói trên.

Bệnh rụng đuôi: Cá bị rụng dần ở phần đuôi, vây lưng, vây bụng.

Cách trị: Bệnh này nguy hiểm rất khó chữa (nên hủy cá đó).

Rối loạn bong bóng hơi: Cá bơi lội khó khăn, nổi lên mặt nước và không lặn được xuống đáy và ngược lại.

Bệnh đốm trắng: (bệnh bông gòn) Có những triệu chứng đốm trắng như bông gòn mọc khắp mình (bệnh này hay lây lan) do nhiệt độ bị giảm đột ngột quá nhiều, cá bị bệnh này thường chết hàng loạt.

Cách trị: Nâng nhiệt độ nước lên 30 -33°c trong 3-4 ngày đồng thời pha vào nước một lượng thuốc tím theo tỷ lệ lg cho một lít nước.

Bệnh ngứa: Cá hay gãi mình vào đá phóng nhanh rồi dừng lại bất thần… do một loại kháng sinh gây ra (bệnh hay lây lan)

Cách trị: Pha 1 g methyline vào 4 lít nước, cho cá bị bệnh vào dung dịch này từ 15 – 20 phút.

Bệnh vặn mình: Cá vặn mình hai bên tại một chỗ như đang bơi, vây cờ đều cụp xuống.

Do: Nước bị lạnh đột ngột, hay cá bị rối loạn tiêu hóa, bị viêm da bởi costia

Cách trị: Nâng nhiệt độ nước trong hồ lên 37″C trong 7 – 12 ngày. Cho cá bệnh tắm trong dung dịch trypoflum nồng dộ lg cho 100 1 nước.

Bệnh chấm trắng: Cá bị bệnh nhiều chấm trắng phủ trên mình rất nguy hiểm.

Cách trị: Cho cá tắm trong dung dịch Sulfatequinine nồng dộ lg cho 100 lít nước pha dần vào hồ cá.

Bệnh sung mang: Cá ngoi lên mặt nước, thở mệt nhọc và mang sưng lên.

Lý do: Trong hồ có nhiều vi sinh vật thảo trùng hay bị nhiễm Dactylogrus. Do nhiệt độ thay đổi quá đột ngột

Cách trị: Ngâm cá bị bệnh khoảng 4 giờ trong dung dịch sau: 501ít nước pha với 1 muỗng cafe gạt ngang Sodium acid phosphate và 5 giọt ammoniac.

Cách phòng bệnh cho cá:

Trước khi cho cá vào hồ, phải được khử trùng hồ thật kỹ, dùng oxy clorua đồng với nồng độ 1%. Sau khi khử trùng xong rửa lại bằng nước lã nhiều lần cho hết thuốc.

Thay nước, vệ sinh theo định kỳ, ít nhất một tuần lễ thay nước một lần, không nên để nước cũ quá lâu gây thối bẩn làm cá bị nhiễm bệnh.

Theo dõi nhiệt độ trong hồ cá (tốt nhất nên đặt một nhiệt kế vào hồ). Tránh tình trạng nhiệt độ thay đổi đột ngột quá lâu khiến cá dễ bị mắc bệnh.

Nếu trong trường hợp cá bị mắc bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nên hủy ngay cá bệnh và sau đó xử lý với số cá còn lại xong thay nước mới.

Không nên cho cá ăn quá nhiều, chỉ cho ăn vừa đủ số lượng, để tránh thức ăn dư, thừa lắng xuống đáy hồ gây ô nhiễm môi trường nước làm cá dễ bị bệnh. Đối với cá mua ở nơi khác về, trước khi cho vào hồ nên coi lại cá có hiện tượng mắc bệnh hay không (Nếu cá bệnh nên hủy ngay). Còn cá ngoại nhập mới thuần hóa cần phải có biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng kỷ lưỡng.

Những hiện tượng cần chú ý:

+ Hồ cá đóng nhiều rêu xanh trên mặt, thành kính là môi trường cho cá sinh sống tốt

+ Nếu thấy các chùm rong trồng trong hồ cá không phát triển tốt có hiện tượng chết dần, lúc đó nước trong hồ cá không còn an toàn cho cá nuôi.

Khi thấy nước trong hồ bị gợn đục, vốc nước lên ngửi thấy có mùi hôi cần thay nước gấp (Hiện tượng này dẫn đến cá không đủ oxy để thở).

Nước tốt trong sạch cá bơi lội tung tăng, nếu bạn thấy cá xếp vây cờ lại, không bơi lội bình thường nữa là lúc nên lưu ý có điều cần chấn chỉnh.

Kết luận

Cá cảnh nước ngọt thực sự không khó nuôi và chăm sóc nếu bạn đã biết được những thông tin cần thiết như trên. Đảm bảo nguồn nước, thức ăn và vệ sinh bể đúng cách cá sẽ giúp cá sống khỏe để bạn có thể ngắm chúng mỗi ngày.


【#7】Tổng Hợp Các Loại Cá Cảnh Nước Ngọt Dễ Nuôi Và Đẹp Nhất Hiện Nay

Đâu là các loài cá cảnh nước ngọt đẹp mà lại dễ chăm sóc là vấn đề của khá nhiều người. Hiện nay, cá cảnh nước ngọt vô cùng phong phú đa dạng nên để lựa chọn đủ điều kiện đẹp mà dễ nuôi cũng không phải dễ. Bài viết này sẽ chia sẻ và gợi ý cho bạn.

Tổng hợp các loại cá cảnh nước ngọt đẹp nhất và dễ nuôi

Cá rồng là một trong các loại cá cảnh nước ngọt được quan tâm và yêu thích hiện nay, chúng luôn là lựa chọn đầu tiên của rất nhiều gia đình.

Về đặc tính, chúng là loại cá khá dữ nên bạn chỉ có thể nuôi một con duy nhất trong bể nuôi vừa phải mà thôi, nếu có điều kiện chuẩn bị một hồ lớn thì cho một số con được sống cùng nhau.

Về giá thành của loại cá rồng thường khá cao, mức giá của chúng cao hơn hẳn so với những loại cá cảnh nước ngọt khác bởi chúng nổi tiếng được nuôi với ý nghĩa để trấn trạch trong nhà, gia chủ luôn phát đạt và bình an.

Cá Rồng – Cá cảnh nước ngọt đẹp và dễ nuôi

– Cá bình tích

Nổi tiếng là loài cá cảnh có vẻ đẹp lạ, hấp dẫn và sở hữu thân hình bầu bĩnh. Bên cạnh đó, cá bình tích còn là loại cá cảnh nước ngọt nuôi rất dễ nên được nhiều người lựa chọn.

Về phân loại, hiện nay cá bình tích được chia thành: Bình tích đen, Bình tích trắng, Bình tích Vàng, Bình tích trân châu.

Nếu gặp các điều kiện thuận lợi, chúng sinh sản và phát triển rất nhanh. Loài cá khá dễ nuôi nên cá con khi mới đẻ có thể ăn được luôn bobo hoặc các loại thức ăn mịn khác.

Cá bình tích – Cá cảnh nước ngọt đẹp lạ, hấp dẫn

Đây là loại cá sở hữu thân dày có màu xám tro, bụng màu vàng và thuôn dần về phía đuôi, đặc biệt chúng không có râu. Miệng ở phía dưới, rạch ngang, có môi dưới rộng hình tam giác. Cá anh vũ có kích thước trung bình, chiều dài toàn thân từ 31-67 cm và trọng lượng cơ thể có thể lên đến 5 kg.

Để nuôi cá anh vũ cũng không quá khó khăn bởi thức ăn mà bổ sung cho chúng chủ yếu là các loại tảo lục, tảo khuê và các loại động vật không xương sống.

– Cá Neon Xanh

Cá neon xanh là loại cá cảnh nước ngọt nhỏ và yếu ớt nên bạn tuyệt đối không nên thả chung với các loại cá khác có kích cỡ to hơn, để tránh tình trạng làm rách vây cá, khiến chúng bơi yếu và nguy hiểm hơn có thể khiến chúng bị chết.

Về thức ăn cung cấp cho cá neon xanh cần lưu ý bổ sung phù hợp nhất, chỉ nên cho chúng ăn các loại thức ăn nhỏ, mịn như: trứng tôm hoặc tôm khô được xay ra rồi rắc lên trên mặt nước.

Cá bảy màu là loại cá thích bể cảnh nước cứng và có thể sống được một cách bình thường ở môi trường với độ mặn cao.

Đặc điểm nổi bật nhất của loại cá này là xu hướng sinh sản rất nhanh và nhiều, chúng có thể sinh đẻ trong cả bể cảnh nước ngọt lẫn nước mặn.

Cá bảy màu có xu hướng sinh sản rất nhanh và nhiều

Những cách xử lý nước nuôi cá cảnh nước ngọt để luôn phát triển tốt

– Thay thế nước bể cá ra sao?

Dựa vào nhu cầu sử dụng của gia chủ và mật độ của cá ở trong bể mà bạn có thể tiến hành thay thế bể nước. Nếu mật độ cá quá đông thì nên tiến hành thay nước để tránh tình trạng nước bị ô nhiễm do bị thải ra bởi phân cá, thức ăn thừa, rong rêu…

Cần thường xuyên vệ sinh bể cá, cọ rửa cẩn thận các vật dụng được dùng để trang trí cũng như thành bể sao cho sạch sẽ nhất.

– Thời gian thay nước như thế nào?

Là loại ống khá phổ biến và được bán rộng rãi tại các cửa hàng cá cảnh. Vai trò của chúng để hút các chất bẩn ở bên trong bể cá ra ngoài mà không yêu cầu phải thay nước trong bể thường xuyên.

    Triển khai hệ thống lọc nước dành riêng cho cá

Việc cần có máy lọc nước để môi trường hồ hoặc bể bơi mới không bị ô nhiễm. Khi đó, các chất bẩn mà cá thải ra ngoài hàng ngày cũng như thức ăn thừa sẽ được máy lọc ra hiệu quả.

Độ pH của nước trong hồ cũng cần hết sức lưu ý để cá có thể sinh trưởng và phát triển tốt nhất. Độ pH hợp lý nhất từ 7 – 7.5, có một số loại cá lại sống tốt hơn khi có độ pH thấp hơn khoảng đó.

– Hướng dẫn cách thay nước khoa học nhất

  • Trước khi thay nước cần đảm bảo cá được vớt hết ra bên ngoài.
  • Bạn lưu ý không được bắt cá và di chuyển cá một cách đột ngột, bất ngờ sẽ khiến chúng sợ hãi và gây nên những vết thương cho cá.
  • Xử lý nước bể cá

Việc xử lý nước trong bể cá hoàn toàn cần thiết để giúp loại bỏ mầm bệnh hiệu quả, giúp loại bỏ các khí độc hại (NO2, H2S, NH3, …) có ở trong nước.

Để tiêu diệt mầm bệnh có trong thức ăn cho cá (bo bo, cá tép con…), bạn nên rửa sạch rồi sục qua nước Ozone. Khi đó, sẽ giúp đảm bảo nguồn thức ăn bổ sung cho cá sạch sẽ, không bị mắc các bệnh, giúp cá phát triển tốt nhất.

Khử trùng thức ăn cho cá cần thiết để cá phát triển tốt nhất


【#8】Kỹ Thuật Nuôi Cá Heo Nước Ngọt

Kỹ thuật nuôi cá heo nước ngọt, Nguồn: Trung tâm giống Thủy sản An Giang.

Cá heo nước ngọt mới bắt đầu nuôi thử nghiệm từ 3 năm nay nhưng rất thành công, mang lại hiệu quả kinh tế cao.

– Người duy nhất nuôi cá heo nước ngọt ở ĐBSCL là anh Bùi Chí Linh (32 tuổi) ở ấp Vĩnh Phú, xã Vĩnh Hội Đông, huyện An Phú (An Giang). Theo các chuyên gia thủy sản, cá heo nước ngọt có tên khoa học là Botia modesta Bleeker, thường xuất hiện nhiều trên sông Hậu và sông Tiền. Cá heo mình hơi xanh bóng, đuôi màu đỏ cam trông rất đẹp, đầu có 2 ngạnh nhọn. Con lớn nhất bằng ba ngón tay và dài khoảng 10cm. Khi bắt lên khỏi mặt nước cá kêu nghe eng éc giống như tiếng heo nên gọi là cá heo.

– Hiện nay, anh Linh có 10 lồng bè nuôi cá heo đang trong thời kỳ thu hoạch. Mỗi bè rộng 3 x 4 m, dự kiến thu hoạch trên 600 kg cá thương phẩm. Nhờ có kinh nghiệm nuôi cá chình, cá chạch lấu từ nhiều năm nay nên khi chuyển sang nuôi cá heo anh Linh đã nắm chắc kỹ thuật về con giống, kích thước lồng bè và quá trình chăm sóc. Cá heo giống xuất hiện nhiều vào mùa lũ từ tháng 8 đến 11 âm lịch. Thời gian đó cũng là lúc anh bắt đầu thu mua cá giống về thả nuôi.

– Ban đầu anh Linh nuôi thử nghiệm cá heo với cá chình thấy phát triển tốt, bán được giá cao nên năm 2010 bắt đầu nuôi thật đã mang lại doanh thu trên 700 triệu đồng. Từ thành công đó nên năm 2011 anh nuôi 10 lồng bè, dự kiến lãi trên 1 tỷ đồng. Anh Linh cho biết thả cá heo bắt đầu từ đầu mùa lũ và thu hoạch vào tháng 8 năm sau, mỗi năm chỉ nuôi một đợt. Con giống phải mua thêm từ Campuchia với giá 50.000 đồng/kg (khoảng 180 con). Có những năm nước lũ nhỏ khan hiếm con giống, giá tăng lên từ 70.000 – 100.000 đồng/kg.

– Theo anh Linh cá heo dễ nuôi, tỷ lệ hao hụt không đáng kể, nhưng muốn đạt năng suất cao, người nuôi phải nắm vững kỹ thuật. Trước hết là lồng bè phải đặt ở những nơi có dòng chảy mạnh, nước sạch và thường xuyên làm vệ sinh, tuyệt đối không để cho bè bị ô nhiễm dễ làm cho cá bị bệnh đường ruột. Theo kinh nghiệm của anh Linh, lồng bè phải được bao bằng 2 lớp lưới thật chắc chắn, lưới chì bên ngoài và lưới Thái Lan loại mắt nhỏ bên trong mới bảo đảm an toàn. Cá heo là loại cá da trơn, trên đầu có 2 nanh nhọn nên việc cá đào tẩu rất dễ, lồng bè chỉ cần thủng một lỗ nhỏ cá có thể xổng đi hết cả đàn.

– Thức ăn chính của cá heo là cám trộn với cá sống (cá biển hoặc cá đồng) xay nhuyễn pha cùng với cám. Nếu có hèm rượu trộn thêm 30%, cá sẽ tăng trọng rất nhanh. Một ngày tốt nhất cho ăn 2 lần vào buổi sáng sớm và buổi chiều lúc mặt trời lặn. Về mật độ thả nuôi, bè nuôi từ 3 x 4m, tốt nhất là nên thả 150 kg giống cho một bè. Nếu nuôi chật cá sẽ chậm lớn và tỷ lệ hao hụt sẽ cao. Sau 10 tháng nuôi, trọng lượng cá thương phẩm đạt 30 con/kg và giá bán ra hiện nay tại bè là 300.000 đồng/kg. Anh Linh cho biết thêm: Nếu nuôi cá heo thương phẩm cho thu hoạch vào tháng mùa nghịch giá có thể lên 400.000 – 450.000 đồng/kg, còn tại nhà hàng 500.000 – 550.000 đồng/kg.

– Vào những ngày cuối tháng 8 khi con nước lũ đổ về huyện đầu nguồn An Phú (An Giang) cũng là lúc các làng bè nuôi cá trên sông Hậu sầm uất hơn. Trong số các làng bè nuôi cá ba sa, cá chình, cá lăng nha, cá chạch lấu truyền thống, gần đây nổi lên một làng bè nuôi cá heo nước ngọt thu lãi bạc tỷ.

– Theo tính toán của anh Linh, nuôi cá heo nếu đạt hiệu quả sẽ lời hơn tất cả các loại cá khác ở vùng nước ngọt. Bình quân mỗi bè, sau khi trừ hết chi phí thức ăn, con giống còn lời từ 70- 90 triệu đồng. Năm nay, giá cá heo cao hơn năm rồi từ 80.000 – 120.000 đồng/kg, nhưng nguồn cung không đủ cầu. Trước đây, cá heo cũng như cá linh, cá chốt chỉ là những sản vật bình thường, ít ai quan tâm nhưng gần đây nó đã nâng lên thành đặc sản, đặc biệt là cá heo da xanh, đuôi đỏ lại cực kỳ ngon nên giá bán ngày càng hấp dẫn.

– Hiện nguồn cung cá heo giống tự nhiên cho các bè nuôi cá ở An Giang giảm sút, trong khi nhu cầu của các nhà hàng tăng cao, việc sinh sản nhân tạo thêm giống cá heo sẽ tạo thêm sự chủ động cho người nuôi cá vùng ĐBSCL. Hiện nay, cá heo sau khi nuôi đạt kích cỡ thương phẩm 30 con/kg. Cá có thể nuôi với thức ăn viên thời gian từ 8 tháng đến 1 năm đạt 20 – 25 con/kg.

– Theo bà Nguyễn Thị Ngọc Trinh (GĐ Trung tâm Giống thủy sản An Giang): Đây là mô hình đầu tiên thực hiện thí điểm thành công của tỉnh An Giang. Vừa qua Trung tâm Giống thủy sản An Giang cùng Khoa Thủy sản trường của ĐH Cần Thơ đã cho sinh sản nhân tạo thành công giống cá heo nước ngọt. Từ việc có con giống chủ động, tới đây tỉnh hướng đến nuôi cá thương phẩm từ bè sang ao bằng thức ăn công nghiệp tránh làm ô nhiễm môi trường, đồng thời tránh khai thác nguồn cá giống trong tự nhiên quá mức. Đây là loại cá triển vọng có giá trị kinh tế cao gấp 10 lần so với cá lóc.


【#9】Các Loại Cá Cảnh Nước Ngọt Đẹp Nhất Năm 2021

Điểm danh những loài cá cảnh nước ngọt đẹp mắt

Cá la hán

Cá la hán có tên tiếng Anh là “Flower Horn” và là một trong những loài cá cảnh nước ngọt được ưa chuộng nhất tại Việt Nam từ nhiều năm nay bởi sự may mắn và độc đáo của nó. Cá la hán ra đời nhờ vào sự lai tạo tuyệt vời của các nghệ nhân nên nó càng đáng quý. Mỗi người có cách nuôi cá la hán lên đầu riêng, nhưng nhìn chung tiêu chuẩn chung để đánh giá 1 chú La hán đẹp là thân hình phải có nhiều “châu” tức là nhiều vảy cá óng ánh, màu sắc sặc sỡ và cái đầu có phần gù càng to thì càng giá trị.

Cá sấu hỏa tiễn

Cá sấu hỏa tiễn là loại cá ăn thịt với thân hình kỳ lai được nhiều người chọn nuôi để làm cảnh trong bể cá của mình có những con có kích thước đến 5 – 6 kg.

Cá bình tích

Cá Bình Tích là loài cá cảnh đẹp lạ và hấp dẫn với thân hình bầu bĩnh đáng yêu. Cách nuôi cá bình tích rất dễ, cá Bình tích được phân loại theo màu sắc như Bình tích đen, Bình tích trắng, Bình tích Vàng, Bình tích trân châu. Cá sinh sản và phát triển nhanh khi gặp điều kiện thuận lợi, cá con khi mới đẻ có thể ăn được bobo hoặc các loại thức ăn mịn khác.

Cá hổ

Cá hổ có lẽ là loài cá cảnh hung dữ nhất hiện nay, thậm chí có thời gian đã bị cấm nhập khẩu vào Việt Nam. Tuy nhiên, nếu yêu thích loài cá cảnh nước ngọt dũng mãnh này và biết cách chăm sóc chúng, bạn sẽ có 1 “đội quân” thực sự tuyệt vời. Cá hổ xuất xứ chủ yếu từ các nước: Thái Lan, Campuchia, Inđonexia… Cá hổ Thái Lan có thân hình dài, dạng đuôi tách rời hình chữ V nhọn. Còn cá hổ Campuchia có sọc 3 thẳng tắp, sọc giữa xiên ít, màu hanh hanh, xám xanh, khi bơi hay chúi đầu. Cá hổ Inđo thường có 3 hoặc 4 sọc. Cá hổ tuy đẹp nhưng cũng khá nguy hiểm bởi những chiếc răng sắc nhọn, do vậy khi chăm sóc bạn nên chú ý cẩn thận.

Cá anh vũ

Cá có thân dày, thuôn dần về phía đuôi, không có râu. Thân cá có màu xám tro, bụng màu vàng nhạt. Miệng phía dưới, rạch ngang, có môi dưới rộng hình tam giác, với nhiều gai thịt tròn nổi. Cá anh vũ có kích thước trung bình, chiều dài toàn thân từ 31-67 cm, trọng lượng có thể lên đến 5 kg.

Cách nuôi cá anh vũ không khó bởi thức ăn của cá cảnh nước ngọt anh vũ chủ yếu là tảo lục, tảo khuê và các loại động vật không xương sống nhỏ sống dưới nước bằng cách dùng môi cạo thức ăn bám trên đá.


【#10】Các Loại Cá Cảnh Nước Ngọt Nhỏ Thích Hợp Nuôi Trong Bể Cá Mini

Hiện nay việc sở hữu một bể cá trong nhà là điều rất đỗi bình thường đối với nhiều gia chủ. Có người quan niệm nuôi cá theo phong thủy, có người lại muốn nuôi cá theo sở thích. Hoặc một số người nuôi để trang trí bàn làm việc, bàn phòng khách hay trang trí cho một góc nhỏ nào đó họ mong muốn. Bài viết: về các loại cá cảnh nước ngọt nhỏ sau đây sẽ rất thích hợp đối với các bể cá đó.

1. Cá bảy màu

Cá 7 màu đa dạng về màu sắc, chúng rất dễ nuôi và nhân giống

2. Cá molly

Cá molly rất đa dạng về màu sắc và khá là dễ nuôi Với đặc trưng ở chiếc đuôi nhọn cá kiếm đang rất được nhiều người ưa chuộng hiện nay Với màu sắc đa dạng, đuôi vây uyển chuyển như mặc váy cá betta luôn được người nuôi ưa chuộng Cá bã trầu là loại cá dễ sống dễ thích nghi trong môi trường bể cộng đồng Đây là loại cá rất quen thuộc với chúng ta. Có thể bắt gặp ở ao, hồ, sông, ngòi cá rất dễ nuôi và đẹp

Cá phượng hoàng rất đẹp với các mảng màu sắc đa dạng, nổi bậ t

Cá cánh buồm với chiếc vây dưới nổi bật không lẫn vào đâu được Cá tứ vân với 3 sọc đen dọc thân chia cá làm 4 phần rõ rệt. Đặc điểm này tạo nên tên gọi của chúng Cá mún với màu sắc sặc sỡ , đa dạng là sự lựa chọn không tồi cho các bể cá cảnh hiện nay Cá neon hiện vẫn đang rất được ưa chuộng với sọc phản quang nổi bật dọc thân Cá ngựa vằn với các sọc đen dọc thân sẽ góp phần tạo nên sự sinh động cho bể cá Cá sặc kiểng có màu sắc và hoa văn trên thân rất độc đáo Cá thủy tinh rất đặc biệt với thân hình trong suốt không lẫn với loài cá nào khác được Cá tam giác cũng là một trong các loại cá được ưa chuộng hiện nay Chúng sống ở phần đáy của bể. Cũng là một trong rất ít các loại cá cảnh có thân dài như rắn Cá nóc nước ngọt là loại cá mới được ưa chuộng gần đây. Mặc dù rất đẹp và độc đáo nhưng cá lại khá khó nuôi do không ăn thức ăn tổng hợp mà chỉ ăn thức ăn tươi

Các loại cá cảnh nước ngọt nhỏ dùng để dọn bể

Được mệnh danh là “dũng sĩ diệt rêu” cá bút chì luôn là lựa chọn số một nếu bạn muốn bể sạch sẽ rêu mốc. Cũng là lựa chọn không tồi cho việc dọn rêu. 1 bể thường chỉ cần nuôi 1 đến 2 con cá là sạch sẽ

3. Cá chuột

Cá chuột có tập tính ăn tạp chúng sẽ dọn dẹp các mẩu thức ăn thừa bể của bạn Cũng là một loại cá dọn rêu phổ biến. Cá oto là một lựa chọn thay đổi nếu bạn không thích các loại cá dọn bể khác Cũng là một loại cá ăn rêu phổ biến hiện nay. Tuy nhiên cần lưu ý vì cá này khá dữ và có tập tính bảo vệ lãnh thổ rất cao

Ngoài các loại cá cảnh nước ngọt nhỏ cũng ta cũng có thể nuôi tép

Tép cũng là sự lựa chọn không tồi nếu bạn chán nuôi cá chú cá truyền thống. và muốn đổi gió cho bể cá cảnh mini của bạn

1. Tép vàng yellow


Bạn đang xem chủ đề Giá Cá Rồng Nước Ngọt trên website Lumiaappcampuschallenge.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!