【#1】Hướng Dẫn Kỹ Thuật Nuôi Cá Trong Bể Xi Măng Theo Công Nghệ Mới

Với mỗi loại cá khác nhau, kỹ thuật nuôi cũng sẽ có những điểm khác biệt. Do đó, bài viết chỉ đề cập đến những phần phổ quát nhất. Khi áp dụng vào nuôi từng loại cá cụ thể, bà con cần nghiên cứu cách nuôi theo đặc thù của giống cá được chọn.

Chuẩn bị bể nuôi

Bể nuôi nên có dạng hình chữ nhật, kích thước tối ưu từ 15 m 2, sâu khoảng từ 1 – 1,5 m, có lưới vây xung quanh để đề phòng cá nhảy ra ngoài (với các loại cá hiếu động), có mái che chắn nếu thời tiết khắc nghiệt. Với diện tích này, cá có đủ không gian để hoạt động nên năng suất vẫn sẽ cao mà không bị ảnh hưởng.

Dưới đáy bể, bà con nên phủ một lớp cát, đóng vai trò làm lớp đệm để tránh cho cá tiếp xúc với đáy, đồng thời giúp lọc nước.

Bể cần được làm nghiêng về hướng xả nước.

Xử lý bể nuôi

Trước khi thả cá, bà con đặc biệt lưu ý phải xử lý bể. Tùy theo bể cũ hay mới để có cách làm sạch cho phù hợp:

-Với bể nuôi cũ, bà con nên lau dọn rồi ngâm bể trong vài ngày, sau đó rửa sạch trước khi bơm nước vào.

– Với bể nuôi là bể xi măng mới, bà con dùng phèn chua hòa vào nước rồi ngâm bể khoảng 1 tuần nhằm loại bỏ những vết xi măng mới còn đọng lại. Khi đã ngâm xong, bà con xả hết nước rồi dùng nước sạch để rửa lại bể thêm lần nữa, ngâm tiếp trong vòng vài ngày, sau đó tháo nước và rửa lại bể lần cuối trước khi bơm nước mới.

Ở cả hai loại bể, sau khi bơm nước vào, bà con có thể cho vôi vào để ổn định độ pH trong bể.

Thả cá giống

Dù lựa chọn nuôi loại cá nào, bà con cũng nên lưu ý chỉ mua giống ở những cơ sở có uy tín, chất lượng tốt, vì đây là yếu tố đảm bảo đầu ra thắng lợi.

Tùy loại cá định thả mà bà con chọn mật độ thả cho phù hợp. Ví dụ: với cá lóc, mật độ thả cá thích hợp tối thiểu là 60 con/m 2, tối đa là 100 con/m 2.

Thời điểm thả cá giống vào bể cũng rất quan trọng. Chẳng hạn, để thả cá lóc giống, người ta thả vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát.

Nguồn dinh dưỡng và thức ăn chính cho các loài cá khác nhau sẽ khác nhau. Nếu như cá lóc ăn chủ yếu là cá tạp (90%) thì cá rô lại ăn cua, ốc, tôm, tép và cá tạp. Do đó, bà con cần căn cứ đặc điểm sinh học, sinh trưởng của cá để cho ăn đúng loại thức ăn.

Mỗi lần cho cá ăn, bà con cần theo dõi sức ăn và độ trong của nước để có biện pháp xử lý kịp thời khi có vấn đề xảy ra. Nhiệt độ, môi trường nước, chất lượng thức ăn hay tình trạng sức khỏe của cá sẽ quyết định việc cá ăn nhiều hay ăn ít.

Trong quá trình nuôi, bà con có thể bổ sung thêm một chút dinh dưỡng từ các loại thức ăn khác như khô dầu các loại, cám gạo đậu nành hoặc thức ăn trộn sẵn; bổ sung vitamin C, các hoạt chất có hỗ trợ men tiêu hóa vào thức ăn khi khí hậu thay đổi thất thường.

Khi cá còn nhỏ, sẽ tốt hơn nếu bà con trang bị dụng cụ cho ăn bằng vỉ tre. Cho thức ăn vào vỉ, thả xuống mặt nước không quá sâu, khoảng 5 – 10 cm để tiện quan sát. Đến khi cá lớn hơn, có thể thả thức ăn trực tiếp vào bể gần nơi thoát nước để khi xả thải những cặn bã của thức ăn có thể trôi đi theo.

Vấn đề môi trường nước cho cá là vấn đề cực kỳ quan trọng cần phải được lưu tâm. Thời gian cần thay nước cho cá cũng khác nhau giữa các loại cá khác nhau. Ví dụ: với cá lóc, trong vòng 20 – 25 ngày đầu, nên thay nước 2 – 3 ngày/lần. Đến khi cá được 1 tháng thì phải thay nước hàng ngày.

Trong những tháng gần với thời gian thu hoạch nên thay 2 lần/ngày. Một số hộ nông dân sáng tạo và có đủ điều kiện về diện tích đất đai còn áp dụng cách xây nhiều bể để nuôi nhiều loại cá khác nhau, lắp đặt hệ thống đường ống dẫn nước đến tận các hồ, nguồn nước thải từ các hồ nuôi cá lóc sẽ được đưa qua hồ nuôi cá trê, giúp tận dụng hết nguồn thức ăn còn thừa.

Phòng bệnh cho cá

Quan trọng hơn cả vẫn là đảm bảo vệ sinh môi trường nước nuôi cá, vệ sinh đúng ngày quy định.

Ngoài ra, bà con chú ý tẩy giun sán, cho cá uống kháng sinh (không được lạm dụng) nếu cần.

Thu hoạch

Đến kỳ thu hoạch (3 – 6 tháng với cá lóc, 3 tháng với cá trê, v.v.), bà con bố trí để bán cá, thu hồi vốn, chuẩn bị tái sản xuất.

Mong rằng, các thông tin chúng tôi vừa cung cấp hữu ích với bà con. Chúc bà con những vụ mùa bội thu.

【#2】Hướng Dẫn Kỹ Thuật Nuôi Cá Chẽm Trong Ao Đất

Ngày đăng: 2021-03-31 09:06:16

Cá chẽm hay còn gọi là cá vược, cá mè kẽm, có tên khoa học: Lates calcarifer (Bloch, 1790). Đây là đối tượng rộng muối từ 0-35%0, thịt cá thơm ngon, dễ nuôi có giá trị kinh tế cao.

Cá chẽm hay còn gọi là cá vược, có tên khoa học Lates calcarifer (Bloch, 1790). Đặc điểm hình thái: Cơ thể dài, miệng rộng, không cân, hàm trên kéo tới tận sau mắt. Đầu nhọn, nhìn bên lõm phía lưng và lồi ở phía trước vây lưng. Vảy dạng lược rộng (xù xì hay nhẵn). Chiều dài tối đa: 200cm, cân nặng: 60kg.

Ao nuôi cá chẽm được thiết kế có dạng hình chữ nhật hoặc hình vuông với kích cỡ từ 1.000m2 – 5.000m2 để dễ chăm sóc, quản lý và thu hoạch, độ sâu của ao thường dao động từ 1,2- 1,5m, đảm bảo lượng nước trong ao luôn ở mức từ 90-120cm. Ao nuôi nên có cống cấp thoát nước riêng để thuận tiện cho việc thay đổi nước. Đáy ao bằng phẳng và dốc về phía cống thoát nước. Ao được xây dựng thuận lợi cho việc cấp thoát nước.

Phương pháp cải tạo ao đất nuôi cá chẽm:

Tháo cạn nước, vét bùn, kiểm tra lại bờ ao, lấp các chỗ rò rỉ và hang hốc quanh bờ ao, sau đó tiến hành bón vôi diệt tạp với liều lượng 10-15kg/100m2, phơi khô đáy ao cho đến khi thấy mặt đáy ao nứt chân chim khoảng từ 3-7 ngày.

Cấp nước vào ao nuôi qua đường ống: Nước được lấy vào ao qua lưới lọc để ngăn chặn rác và cá tạp. Sau khi bón lót xong ta tiến hành lấy nước vào ao nuôi khoảng 0,3- 0,4m để gây màu nước. Sau 2-3 ngày khi nước có màu xanh lục giống màu lá chuối non, sinh vật phù du phát triển mạnh tiến hành lấy nước vào ao nuôi đạt 1,2- 1,5m rồi tiến hành thả cá.

Chọn giống và thả giống

Chọn giống: Cá chẽm là loài cá dữ vì vậy yêu cầu quan trọng về con cá chẽm giống chất lượng phải chọn kích cỡ đồng đều nhằm hạn chế tối đa sự hao hụt do cá ăn lẫn nhau, cá không bị xây xát, có màu sắc tự nhiên và không bị dị tật. Cá chẽm giống chất lượng khoẻ mạnh bơi lội nhanh nhẹn, đồng thời có phản xạ tốt khi có tác động từ bên ngoài.

Thả cá chẽm giống: Trước khi chuyển cá về nuôi trong ao nước ngọt cần thuần hóa cá từ môi trường nước lợ, mặn sang nước ngọt bằng cách pha nước ngọt để hạ độ mặn xuống từ từ, thời gian thuần hóa 4 – 5 ngày cho đến khi cá hoàn toàn thích nghi ở nước ngọt lúc đó mới chuyển vào ao nuôi nước ngọt.

Cá chẽm giống chất lượng có kích thước 8 – 10 cm tiến hành thả vào ao với mật độ 1,5 – 2 con/m2. Nên thả giống vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát, tránh thả giống vào những ngày mưa lớn. Trước khi thả giống phải ngâm túi chứa cá giống xuống ao để khoảng 15-30 phút cho chúng quen dần với điều kiện ao nuôi, tránh gây sốc cá do nhiệt độ và môi trường nước ao thay đổi.

Thức ăn và cách cho cá chẽm ăn

Thức ăn cho cá chẽm: Hiện nay trên thị trường có bán thức ăn công nghiệp cho cá chẽm. Có thể sử dụng kết hợp thức ăn công nghiệp và cá tạp (cá tạp được băm nhỏ) hoặc dùng hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp.

Cách cho cá chẽm ăn: Cho ăn 2 lần/ngày vào buổi sáng (8 giờ) và buổi chiều (17 giờ) với 10% trọng lượng cá trong ao ở 2 tháng đầu. Sau đó chỉ cho ăn 1 lần/ngày vào buổi chiều với 5% trọng lượng cá trong ao. Khi cho ăn cần lưu ý chỉ nên cho cá ăn khi cá bơi gần mặt nước. Cá chẽm là loài cá có tập tính đi theo đàn, cá thường bắt mồi ở tầng giữa chính vì vậy chỉ cho cá ăn khi cá bơi lội gần mặt nước. Cho cá ăn phải cố định vị trí nhất định trong ao.

Quản lý ao cá chẽm: Hằng ngày kiểm tra ao để biết tình hình ao nuôi và bổ sung nước để đảm bảo duy trì mực nước trong ao từ 1,2 – 1,5m. Định kỳ thay nước để loại bỏ các thức ăn dư thừa trong ao, chế độ thay 3 ngày/lần, mỗi lần thay 20-30% lượng nước trong ao. Trường hợp cá nổi đầu do thiếu oxy vào buổi sáng tiến hành thay toàn bộ nước trong ao cho đến khi ổn định trở lại.

Quan sát ghi nhật ký hàng ngày các yếu tố môi trường trong ao nuôi như: nhiệt độ, oxy hoà tan và pH. Định kỳ 15 ngày hoặc sau khi thay nước tiến hành bón vôi cho ao nuôi với lượng từ 2 – 3 kg/100m2 nhằm xử lý nước và phòng bệnh cho cá. Ngoài ra thường xuyên kiểm tra rào chắn ao nuôi nhằm phòng chống các loại địch hại trực tiếp của cá như: rái cá, rắn, chim… bắt trộm cá.

Phòng và trị một số bệnh thường gặp ở cá chẽm

Phòng bệnh cho cá chẽm: Để hạn chế sự phát sinh của mầm bệnh trong ao ta áp dụng các biện pháp tổng hợp sau: Giữ chất lượng môi trường nước tốt. Giảm bớt việc làm cá bị “sốc” môi trường như oxy hòa tan thấp, nhiệt độ quá cao hay quá thấp, sự tích tụ của các chất thải. Chọn cá giống khoẻ mạnh, kích cỡ đồng đều, màu sắc tươi sáng, không dị hình dị tật. Thường xuyên theo dõi, chăm sóc cá nuôi để chuẩn đoán tình trạng sức khoẻ cá. Mật độ thả nuôi vừa phải, không thả quá dày. Không cho cá ăn quá thừa cũng như quá thiếu. Thức ăn phải tươi, không có mầm bệnh (với thức ăn nguồn cá tạp). Ngăn ngừa địch hại và vệ sinh dụng cụ thường xuyên.

Trị bệnh cho cá chẽm: Trong quá nuôi cá chẽm thường mắc một số bệnh sau:

Bệnh do nguyên sinh động vật: Cá bơi lội bất thường như mất thăng bằng, da rướm máu hoặc xây xát, cá bỏ ăn, màu sắc không bình thường, ăn mòn mô, cá tiết ra nhiều nhớt, xuất huyết và thân bị trương lên hay mắt sưng phồng. Cách điều trị: Sử dụng Formol tạt xuống ao với liều lượng 20 – 25ml/m3.

Bệnh sán lá mang: Cá bị nhiễm sán lá mang cao thường tiết nhiều dịch nhầy đặc ở mang. Hô hấp khó khăn, khi nhiễm bệnh cao có thể chết rải rác tới hàng loạt. Cách điều trị: Tắm cá với dung dịch formol 150 – 200 ppm (150 – 200 ml formol/1 khối nước) trong 30 – 60 phút có sục khí mạnh, hoặc phun xuống ao với formol 25 – 30 ppm (25 – 30 ml formol/1 khối nước) trong 1 – 2 ngày. Dùng Hadaclean A (loại 5 %) tắm cho cá với liều lượng 5 – 10 ppm trong 10 – 20 phút.

Bệnh đỉa cá: Đỉa cá là loại ký sinh trùng hút máu làm cho cá chậm lớn hoặc bị chết. Đỉa cá thường ký sinh ở gốc vây, vẩy, hốc miệng và mũi cá. Đỉa phát triển mạnh ở ao có nhiều rong phát triển để đẻ trứng. Phòng trị: Quản lý rong, tảo đa bào dạng sợi trong ao. Tắm cho cá bằng nước muối 3 – 5‰ (hòa tan 300 – 500g muối trong 10 lít nước). Phun trực tiếp Formalin xuống ao với nồng độ 20 -25 ppm (20 – 25 ml formalin /1 khối nước).

Thu hoạch cá chẽm:

Sau thời gian nuôi 8 – 10 tháng trọng lượng cá đạt từ 0,8 – 1kg thì tiến hành thu hoạch, có thể thu tỉa hoặc dùng lưới kéo thu toàn bộ. Trước khi thu hoạch cần cho cá nhịn ăn trước 1 ngày để công tác vận chuyển được an toàn hơn.

Theo Cty thủy sản Trường Phát

TIN TỨC KHÁC :

【#3】Hướng Dẫn Nuôi Ghép Cá Trắm Đen Hiệu Quả

Nuôi ghép cá trắm đen ra sao?

Hiện nay nuôi cá trắm đen thương phẩm đang được người nuôi cá quan tâm. Cá trắm đen thường được thả ghép với mật độ rất thưa trong các ao nuôi cá truyền thống nhằm tận dụng nguồn thức ăn là ốc tự nhiên có trong ao.

Cá trắm đen được nuôi rải rác ở một số tỉnh thành như Ninh Bình, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nội…

Trong quá trình điều tra cho thấy, không có hộ nào nuôi đơn cá trắm đen mà 100% là nuôi ghép. Mật độ cá trắm đen trung bình là 0,1 con/m2 (1con/10m2), trong ao nuôi có mật độ trung bình 0,4 con/m2 (4 con/10m2). Mật độ thả chung trong ao có xu hướng giảm dần khi mật độ cá trắm đen tăng lên. Người dân cho biết, cá trắm đen là loài rất nhạy cảm với điều kiện môi trường xấu vì vậy nuôi thương phẩm cá trắm đen cần có môi trường nuôi sạch, tức là phải thả thưa và mật độ các loài cá khác phải thấp.

Cá trắm đen thường được nuôi ghép với nhiều loài cá khác nhau.

Bảng: Các kiểu nuôi ghép cá trắm đen trong ao

Sự kết hợp ghép các loài cá nuôi với tỷ lệ ghép hợp lý sẽ tận dụng tối ưu dinh dưỡng tự nhiên trong ao, xử lý ô nhiễm môi trường và tăng hiệu quả của hệ thống nuôi.

Kích cỡ cá trắm đen khi thả trung bình là 0,48kg/con, cỡ nhỏ nhất là 0,03kg/con.

Cá trắm đen nếu thả thưa trong ao đầm có động vật nhuyễn thể phong phú thì một năm nuôi cá thể đạt khối lượng 3-4 kg với cỡ cá giống 0,1-0,15 kg/con. Nhưng ở Trung Quốc cỡ cá trắm đen thả tốt nhất là 0,5-0,7kg/con khi nuôi ghép trong ruộng lúa với mật độ rất thưa là 1 con/80-150m2 ruộng, với điều kiện giầu ốc thì sau một năm đạt 4-7kg.

Thức ăn ưa thích của cá trắm đen là ốc. Và có thể bổ sung thêm ngô, cám, gạo hoặc thức ăn viên công nghiệp. Thức ăn nhân tạo là sự lựa chọn thứ 2 của cá trắm đen vào mùa hè, mùa thu nhưng chúng không ăn vào mùa xuân.

Bệnh của cá trắm đen: Vào khoảng tháng 5-6 là thời điểm tiết trời chuyển mùa xuân sang hạ, nhiều đợt gió mùa xuất hiện làm sự thay đổi nhiệt độ và môi trường đột ngột cùng với sự phát triển mạnh mẽ của vi sinh vật gây bệnh làm cho cá dễ mắc bệnh. Các biểu hiện của bệnh cá trắm đen là cá tuột vẩy, mất nhớt, đóng rêu, thối mang và không có biểu hiện gì. Bệnh thường xuất hiện khi thay đổi thời tiết đột ngột. Bệnh thường xảy ra ở mọi kích cỡ của cá.

Hệ thống nuôi ghép trắm đen kết hợp với trồng sen không những cho lợi nhuận thu từ cá mà còn thu được từ hạt sen với năng suất 300-600 kg hạt sen khô/ha. Với giá bán tại đầm 20.000đồng/kg hạt thì sau mỗi vụ sen người sản xuất thu thêm ít nhất từ 6 triệu đến 12 triệu đồng/ha đầm.

Trong ao nuôi cá trắm đen thương phẩm nên được ghép kết hợp 2-3 loài để sử dụng hiệu quả dinh dưỡng trong các tầng nước. Trong đó, cá trắm đen là chính, còn mè trắng có vai trò lọc thực vật phù du…, tỷ lệ thả từ 50% đến 75% cá trắm đen. Cá giống cỡ lớn 100g-500g/con thả với mật độ 2-3 con/10m2 cho ăn thức ăn bằng ốc và thức ăn viên sẽ cho hiệu quả nuôi tốt.

Nuôi cá trắm đen là hướng đi mới được người nuôi cá ở một số tỉnh như Hải Dương, Ninh Bình, Hưng Yên quan tâm. Cá trắm đen hiện nay chủ yếu được nuôi ghép trong ao đất hoặc nuôi kết hợp trong đầm trồng cây sen ở mức độ bán thâm canh. Cá trắm đen được nuôi ghép cùng với các loài cá truyền thống: mật độ chung của ao nuôi ghép là 0,3-0,6 con/m2 với tỷ lệ trắm đen trung bình 29%. Nuôi ghép cá trắm đen cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với nuôi cá truyền thống.

Nghiên cứu thực nghiệm sinh sản nhân tạo, ương nuôi cá hương, cá giống trắm đen 1. Xây dựng quy trình sinh sản nhân tạo cá bột trắm đen

Đã xây dựng và hoàn thiện quy trình sinh sản nhân tạo cá trắm đen tại Trại sản xuất cá giống với các bước như sau:

Bước 1: Chuẩn bị cá bố mẹ và ao nuôi:

Cá bố mẹ từ 3 – 4 năm tuổi, trọng lượng 5 – 6 kg/con. Tỷ lệ đực /cái = 1,5 – 2/1. Mật độ 20 – 22 kg cá/100m2. Diện tích ao 2000 – 3000m2.

Ao được tát cạnA, tẩy dọn, bón vôi 7 – 8 kg/100 m2, bón lót phân chuồng 15-20 kg/100m2. Lọc nước sạch cho vào ao, độ sâu của nước 1,2-1, 5m. Thả cá vào ao lúc t0: 20 – 250 C.

Giai đoạn 1: Nuôi vỗ cá bố mẹ phát dục (tháng 11 – tháng 12): Thức ăn cho cá = 2 – 3% trọng lượng cá/ngày, hàm lượng đạm trong thức ăn 25 – 30%. Phân chuồng 10kg/100m2/tuần /lần. Thay nước ao 1 lần 30 – 40 cm (tháo nước cũ bơm nước mới).

Giai đoạn 2: Nuôi vỗ tích cực (tháng 1 – tháng 3): Thức ăn có hàm lượng đạm 28 – 30%. Số lượng thức ăn = 8% trọng lượng cá/ngày. Phân chuồng 5 kg /tuần/lần. Mỗi tháng bơm nước 1 lần, lượng nước bơm vào = 1/3 nước có trong ao. Khi t0 < 150C ngừng cho ăn. Vào tháng 3 tiêm kích dục tố 1 lần với liều lượng 2-3 mg LRH – A/kg cá.

Giai đoạn 3: Nuôi vỗ thành thục (tháng 4 – tháng 6): Lượng thức ăn bằng 1/2 so với giai đoạn 2. Chất lượng thức ăn như giai đoạn 2. Một tuần bơm nước 1 lần, lượng nước bơm bằng 1/3 lượng nước có trong ao (thay 1/3). Mỗi tháng tiêm kích dục tố 1 lần, liều lượng 2mg LRH – A /kg cá. Thời gian này kiểm tra và chuẩn bị cho cá đẻ.

Bước 3: Chọn cá và áp dụng các biện pháp sinh sản nhân tạo:

Chọn cá cái có bụng phình mỏng, da hậu môn màu hồng, trứng cá màu vàng xanh, nhân trứng hơi lệch. Chọn cá đực có tinh dịch đặc trắng. Tỷ lệ đực /cái = 1,5 – 2/1. Tiêm cá đực 1 lần vào lúc tiêm lần 2 cá cái, liều lượng thuốc tiêm bằng 1/3 cá cái. Tiêm cá cái: Lần 1 từ 5 – 10 mg LRH – A + 2 – 3 não cá/1kg cá. Lần 2 từ 40 -50mg LRH – A + 5-8 não cá/kg cá. Tiêm lần 1 cách lần 2 từ 4 – 5h. Lưu tốc nước chảy 0,3 m/s. Nhiệt độ nước 22 – 28 C, pH của nước 6 – 8.

Bước 4:Ap trứng cá và xử lý cá bột: Mật độ ấp trứng 2 trứng /cm3. Lưu tốc nước chảy: 0,2 – 0,3 m/s. Lưu lượng 15 – 20 m3 /h. Ôxy hoà tan 6 -7 mg / lít. Nhiệt độ nước 22 – 28C, pH của nước 6 – 8.? p 4 – 5 ngày (tuỳ theo nhiệt độ). Cá có bóng hơi và đen lưng đạt tiêu chuẩn cá bột.

2. Xây dựng quy trình ương nuôi cá bột lên cá hương

Xây dựng và hoàn thiện quy trình ương nuôi cá bột, cá hương phù hợp với điều kiện của tỉnh Hà Nam gồm các bước:

Bước 1: Chuẩn bị ao ương nuôi cá:

Ao phải đảm bảo các yêu cầu:

Bờ ao không bị rò rỉ, tràn ngập khi mưa, thuận lợi tưới tiêu nước và giao thông. Ao được dọn sạch cỏ rác, san phẳng đáy, vét bùn đáy chỉ để lại lớp bùn 15 – 20cm. Dùng vôi bột vãi đều đáy ao và mái bờ để diệt tạp và cải tạo đáy ao, số lượng vôi 12 – 15kg/100m2. Bón lót phân chuồng đáy ao 25 – 30kg/100m2. Phơi đáy ao 1 – 2 ngày để diệt sinh vật hại cá và cải tạo môi trường đáy ao.

Khi tháo nước vào ao phải dùng vải lọc có quy cỡ như sau

K: 40 – 50 lỗ /1cm2, nước không có độc tốn, nước đưa vào ao hôm nay ngày mai thả cá ngay (không đưa nước vào ao sớm trước nhiều ngày rồi mới thả cá) đưa nước vào ao từ từ: 0,8 m-1m-1,2m-1, 5. Kiểm tra độ pH, nồng độ ô xy hoà tan, nhiệt độ của nước lúc thả đạt tiêu chuẩn là thả được cá vào để nuôi

Bước 2: Thả cá vào ao:

Chọn lúc trời mát, nhiệt độ nước từ 25 – 28C, thả cá xuống nước từ từ để cá quen dần với môi trường ao rồi mới đưa hết ra ao khỏi dụng cụ đựng cá, tránh cá bị sốc và nhiễm bệnh. Mật độ nuôi cá bột 100 – 150con/m2 ao. Không thả lẫn hoặc ghép các loại cá khác.

Bước 3: Chăm sóc cá bột lên hương: Tuần thứ nhất dùng thức ăn có độ đạm 30% nghiền nhỏ, nấu chín hoà tan nước, té đều khắp ao, số lượng cho ăn 0,5kg/vạn cá/ngày. Từ tuần thứ hai trở đi cho ăn 0,5 – 0,8kg/vạn cá/ngày, số thức ăn tăng dần theo độ lớn của cá. Lượng phân bón mỗi tuần một lần từ 20 – 30kg/100m2 té đều khắp ao. Tiếp nước 3 – 4 lần /tháng, mỗi lần tăng thêm 30 – 40 cm nước trong ao (theo hình thức tháo nước đi, tiếp nước vào) để tạo điều kiện sinh thái tốt cho cá sinh trưởng và cải tạo được thành phần thức ăn tự nhiên cho cá. Lượng ô xy hoà tan phải đảm bảo từ 4mg /lít trở lên, pH từ 6,5 – 8.

3. Xây dựng quy trình ương nuôi cá hương lên cá giống

Bước 1: Chuẩn bị ao nuôi cá: Diện tích ao từ 1000 – 2000m2. Tát cạn ao, tu sửa bờ, tẩy dọn ao, vét bùn đáy. Tẩy ao bằng vôi 10 – 15kg/100m2. Bón lót phân 20 – 25kg/100m2. Phơi đáy ao 1 – 2 ngày. Lọc nước sạch vào ao, độ sâu nước 1,2 – 1, 5m. pH của nước 6, 5 – 7. Lượng ô xy hoà tan 5mmg/lít.

Bước 2: Nhập cá vào ao: Luyện cá ở ao cá hương trước khi đánh cá. Mật độ 20 – 25 con /m2. Thả cá từ từ vào ao. Nhiệt độ lúc thả cá 22 – 28C.

Bước 3: Quản lý và chăm sóc: Cho ăn thức ăn tổng hợp có đạm 25 – 30%. Ngày cho ăn 2 lần, lượng cho ăn 8 – 10% trọng lượng cá/ngày. Phân chuồng cho ăn tuần 1 lần từ 25 – 30kg/100m2. Mỗi tuần tiếp nước 1 lần. Lượng nước tăng 30 – 40cm mực nước trong ao /1 lần bơm (tháo nước cũ, tăng nước mới). Kiểm tra ao vào lúc sáng sớm, chiều mát để có biện pháp kỹ thuật phù hợp. Thời gian nuôi từ 50 – 60 ngày. Cá đạt cỡ 6 – 8cm là được tiêu chuẩn cá giống.

Câu Hỏi Thường Gặp

【#4】Hướng Dẫn Phân Biệt Cá Rô Đồng Tự Nhiên Và Cá Rô Nuôi Tại Ao

Share Everywhere

Phân biệt cá rô đồng tự nhiên và rô đồng nuôi

Cá rô đồng: Đen trùi trụi, ốm và rất khỏe mạnh, hiếm khi chịu nằm yên trong mâm người bán. Con to lắm cũng chỉ hơn 3 ngón tay ghép lại một chút. Giá bán: 80.000 – 100.000đ/kg. Xuất hiện nhiều ở vùng Đồng Tháp và An Giang.

Cá rô nuôi: Có da màu xam xám, rất to, mập mạp, trọng lượng khá lớn, khoảng 300gr/con, có con nặng trên 1/2kg. Quan sát cá nằm trên mâm sẽ thấy chúng chỉ vỗ lạch bạch chiếc đuôi xuống mâm chứ không thể nhảy lên cao. Giá bán: 40.000 – 50.000đ/kg.

  • Cá rô đồng tự nhiên: Cá rô đồng tự nhiên thường có kích thước bé khoảng 2 hay 3 ngón tay. Thân cá đen xám (chủ yếu ngả màu đen), mình cá hơi tròn, cá rất là khoẻ, hiếm khi nằm yên trong chậu, mâm của người bán. Cá sống trong chậu ít nước tốt không có biểu hiện yếu, khi cá nằm yên chỉ cần động tay vào là cá lập tức ngọ nguậy.
  • Cá rô đồng nuôi: Cá rô đồng nuôi thường có kích thước lớn khoảng gấp đôi hay gấp 3 cá tự nhiên. Mỗi con cá to cá thể có trọng lượng lên tới 0,5kg và bé vào khoảng 0,3kg/con. Cá có màu xám toàn thân, mình cá to và mập. Vì thân hình béo, cá rô đồng khi thả vào chậu hoặc mâm của người bán ít ngọ nguậy hơn, nhìn cá có vẻ yếu.

Về giá của cá rô đồng:

  • Cá rô đồng tự nhiên: Cá rô đồng tự nhiên là cá đánh bắt, nên số lượng cá ít và giá cá nhìn chung cao hơn nhiều so với cá rô đồng nuôi. Giá mỗi kg cá rô đồng tự nhiên hiện tại vào khoảng từ 80.000đ đến 100.000đ/kg.
  • Cá rô đồng nuôi: Cá rô đồng nuôi có nhiều so với rô đồng tự nhiên do được nuôi với số lượng, giá cá rô đồng nuôi rẻ hơn so với rô đồng tự nhiên khoảng 1/3 giá. Giá hiện tại mỗi kg rô đồng nuôi vào khoảng 50.000đ đến 60.000đ.

Về chất lượng thịt:

  • Cá rô đồng tự nhiên: Vì là cá tự nhiên, thân cá bé và người ngắn nên lượng thịt trong cá rô đồng tự nhiên rất ít. Thịt cá rô đồng rất thơm và ngon, nhưng đa số là toàn xương cá chính vì vậy nên với cá rô đồng tự nhiên thường làm món ăn như: cá rô đồng nướng, cá rô đồng chiên, cá rô đồng nấu canh… Đặc biệt cá rô đồng nấu canh cải được xem như là 1 phương pháp giải rượu cực kỳ hữu ích, làm giảm say, hết nhức đầu…
  • Cá rô đồng nuôi: Loại này nhiều thịt hơn, nhưng thịt lại không thơm bằng cá tự nhiên. Chính vì thân cá to và mập nên người dùng dễ dàng lọc được thịt cá, nhưng nhìn chung các loại cá rô đồng kể cả nuôi và tự nhiên đều nhiều xương.

Một số món ngon:

    Một số món ngon với cá rô đồng đối với gia đình: Cá rô đồng rán giòn, cá rô đồng nướng, canh cải nấu cá rô đồng, cá rô đông kho khế, bún cá rô đồng, xôi cá rô đồng, cá rô đồng kho tộ…

【#5】Một Trong Những Người Đầu Tiên Nuôi Cá Hô Thương Phẩm Thành Công Ở Vĩnh Long

Ao nuôi cá hô

Trước đây cá hô xuất hiện khá nhiều trên dòng Cửu Long nhưng gần đây số lượng giảm nhiều do đánh bắt, dẫn tới nguy cơ tiệt chủng nên loài cá nầy có tên trong sách đỏ Việt Nam. May thay, gần đây Trung tâm Quốc gia Giống thủy sản nước ngọt Nam Bộ đã cho cá hô sinh sản nhân tạo thành công và đã chuyển giao con giống cho nhiều hộ nuôi thử nghiệm đạt hiệu quả cao, điển hình như ở An Giang, Kiên Giang, Vĩnh Long….

Một trong những người nuôi cá hô thương phẩm thành công là ông Ngô Hữu Phước, 63 tuổi, ngụ ấp Đông Hậu, xã Ngãi Tứ, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Ông Phước cho biết cá hô dễ nuôi, tăng trọng nhanh, ít bị dịch bệnh, tỷ lệ hao hụt không đáng kể. Sau 18 tháng nuôi cá có trọng lượng từ 2 – 2, 5kg/con. Đặc biệt cá hô càng lớn giá trị kinh tế càng cao, vì thế nhiều người nuôi đến năm thứ 3 mới bắt đầu kéo bán (trọng lượng từ 5 – 10 kg/con).

Năm 2013 ông Phước thả nuôi thử nghiệm 4 con, sau 18 tháng đạt trọng lượng 5kg/con khiến mọi người không ngờ. Sau đó ông thả nuôi tiếp 200 con giống. Từ kết quả đã đạt được, năm 2021 ông thả thêm 650 con giống mới mua từ An Giang. Vừa nuôi ông vừa học hỏi kinh nghiệm từ các mô hình ở các tỉnh bạn, đồng thời ông cũng nghiên cứu thêm từ sách báo, đặc biệt là sự hỗ trợ nhiệt tình của các chuyên gia thủy sản.

Theo kinh nghiệm của ông, muốn cho cá lớn nhanh, lớn đồng đều, con giống phải khỏe mạnh, chất lượng cao và nên thả với mật độ 1m2/con. Khi cá lớn, diện tích mặt nước sẽ tăng lên gắp đôi cho cá tự do bơi lội vì loài cá nầy thích vẫy vùng. Ngoài ra, trong ao nuôi ông còn thiết kế nhiều mùng lưới (vèo) để nhốt chung những con cá đồng cỡ với nhau, tránh sự giành ăn.

Nước trong ao phải bảo đảm vệ sinh và đủ dưỡng chất. Vì vậy, dưới đáy ao ông bố trí một hệ thống sụt khí để tăng cường oxy cho cá, nhất là cá lớn. Về thức ăn, ông cho cá ăn thức ăn công nghiệp (viên) kèm thêm rau muống và rau cải vụn. Loài cá này rất háu ăn nhưng nhát, chúng thường ở độ sâu khi trời nắng và chỉ lên ngóp khi chiều mát.

Từ năm 2021 ông bắt đầu thu hoạch nhưng không bán một lần mà chỉ kéo bán khi nào có người đặt mua với giá 300.000đ/kg (giá mỗi con từ 1,5 – 3 triệu đồng). Nhờ vậy mà từ đầu năm đến nay ông đã thu về trên 300 triệu đồng từ tiền bán cá hô thương phẩm.

Ông Ngô Hữu Phước và con cá hô nặng 5 kg vừa mới kéo lên

Theo ông, hiện cá hô rất hút hàng vì đây là một loài đặc sản có thể chế biến thành nhiều món ngon độc đáo như nấu lẩu chua, nướng phi lê, kho lạt… Hơn nữa, nhiều người lại tin rằng ăn cá hô rất “hên” vì là loại cá vua, vừa ngon vừa bổ dưỡng nên ai cũng tìm mua dù giá cao hơn các loại cá khác.

Ông Ngô Hữu Phước chia sẻ: “Tôi đã trải qua nhiều năm nuôi cá trê, cá tra, cá chép, chạch lấu, bống tượng… nhưng không có loại cá nào hấp dẫn bằng cá hô. Loại cá này không những mau lớn mà giá cả thị trường lúc nào cũng ổn định và luôn ở mức cao. Đặc biệt cá nuôi càng lâu lời càng nhiều”.

Ông Trần Thiện Việt, Chủ tịch Hội Nông dân xã Ngãi Tứ nhận xét: “Ông Ngô Hữu Phước là một nông dân cần cù, chịu khó học hỏi và có trình độ kỹ thuật cao, nhờ vậy mà nuôi đâu trúng đó. Không những làm giàu cho gia đình mà ông còn rất tận tình hướng dẫn nhiều người khác học hỏi, tìm hiểu mô hình làm ăn có hiệu quả như ông”.

【#6】Hướng Dẫn Nuôi Cá Trê Trong Bể Xi Măng Chi Tiết Nhất

Nuôi cá trê trong hồ lót bạt, bể xi măng là hướng đi mới phù hợp với các hộ gia đình hạn chế về diện tích đất, không có ao nuôi. Ưu điểm của mô hình này là dễ chăm sóc, quản lý, hạn chế được nhiều dịch bệnh, các tác động trực tiếp của ngoại cảnh. Tuy nhiên đây là hướng đi khá mới nên bà con chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc chăm sóc, quản lý. Do đó để giúp các nông hộ giảm thiểu tối đa rủi ro, có kiến thức trong chăn nuôi, bài viết này sẽ hướng dẫn cụ thể, chi tiết cách nuôi cá trê trong bể xi măng, mời bà con cùng theo dõi.

Mô hình nuôi cá trê lai trong bể xi măng đang góp phần giúp nhiều hộ dân thoát nghèo

Trong những năm gần đây, cá trê thương phẩm được nhân rộng quy mô chăn nuôi trên nhiều địa bàn của cả nước, đem lại nguồn thu đáng kể cho các hộ dân. Mô hình nuôi cá trê của anh Nguyễn Văn Năm (Diên Khánh, Khánh hòa), sau những thất bại ban đầu do chưa có kỹ thuật, anh đã không ngừng hỏi hỏi, tích lũy. Bắt đầu nuôi trê lai trong bể xi măng từ năm 2014, đến nay mỗi lứa anh xuất bán gần 2 tạ cá, thu trên 10 triệu đồng. Anh Năm chủ yếu bán cho các nhà hàng, khách sạn, quán ăn, các đơn vị chế biến thực phẩm…

Nông dân hai lúa Lưu Công trí ở Tân Phúc cũng là một điển hình. Sau khi trừ đi mọi khoản chi phí, mỗi lữa anh thu lãi khoảng trên 30 triệu đồng nhờ áp dụng đúng kỹ thuật nuôi trê trong bể xi măng.

Các loại cá trê và đặc điểm sinh học

Các loài cá trê nuôi phổ biến

Họ cá trê có nhiều loại khác nhau được nuôi trồng và lai tạo ở nhiều nơi trên thế giới. Ở Việt Nam hiện nay nuôi phổ biến 4 loại cá trê:

  • Cá trê đen – Clarias fuscus
  • Cá trê vàng – Clarias macrocephalus Gunther
  • Cá trê trắng – Clarias batrachus
  • Cá trê phi – Clarias lazera

4 giống cá trê này đều có sức đề kháng cao vì có cơ quan “hoa quế”. Do đó nó có thể thích ứng tốt, sinh trưởng và phát triển ổn định trong nhiều môi trường khác nhau như: ao tù, mương rãnh, bể xi măng, bể lót bạt, nuôi ở nơi có hàm lượng oxy thấp.

– Cá trê đen – Clarias fuscus

Được nuôi phổ biến ở miền Bắc. Mùa đẻ từ tháng 3, tháng 4 và tháng 8, tháng 9. Nhiệt độ sống thích hợp từ 11-39,5oC; độ pH: 3,5-10,5; độ mặn dưới 15‰. Cá giống cỡ 15cm có khoảng 2000 trứng.

Cá trê đen có thịt ngon, bán được giá trị kinh tế cao nhưng sản lượng thấp. Cá trê đen hoạt động chủ yếu vào ban đêm, khi đi kiếm ăn chúng sẽ phát ra tiếng kêu “kèn kẹt”. Đặc biệt giống cá này hay sống thành đàn lớn, nuôi trong ao, mương rãnh hay có hiện tượng phá bờ, khoét lỗ chui rúc.

– Cá trê vàng – Clarias macrocephalus Gunther

Được nuôi phổ biến ở miền Nam nước ta. Giống cá này chậm lớn hơn cá trê trắng nhưng thịt lại thơm ngon, ngọt. Tuy nhiên cũng có hiện tượng hay phá bờ, trèo lóc đi vào lúc trời mưa.

– Cá trê trắng – Clarias batrachus

Cá trê trắng có đặc điểm là vây ở phần lưng và hậu môn không nối liền với vây ở phần đuôi. Sau khi chết, chúng sẽ chuyển sang màu trắng nhạt.

Thịt cá trê trắng không được ngon bằng trê vàng và trê đen. Do đó đây không phải là giống cá nuôi thương phẩm phổ biến.

– Cá trê phi – Clarias lazera

Cá trê phi có nguồn gốc từ châu Phi, sống ở hạ lưu sông Nin, các đầm, hồ lớn. Đây là giống cá có tốc độ sinh trưởng rất nhanh, thân hình lớn được nhập vào Việt Nam từ năm 1875 và nuôi thử nghiệm ở miền Bắc. Cá nuôi thương phẩm khoảng 3 tháng đã có thể xuất bán.

Thịt cá thơm ngon, lại có sức đề kháng tốt nên người ta đã tiến hành lai tạo cá trê phi đực với cá trê vàng giống gốc bản địa để tạo ra dòng cá trê lai vàng có tốc độ sinh trưởng nhanh, thịt ngon, được ưa chuộng nhân nuôi với mô hình rộng lớn.

Bảng 1: So sánh chi tiết đặc điểm của các giống cá trê ở Việt Nam

Kỹ thuật nuôi cá trê lai trong bể xi măng

Chuẩn bị bể xi măng thả cá

Cách xây hồ xi măng nuôi cá:

  • Hình dáng: bể xi măng hình chữ nhật.
  • Diện tích phù hợp nhất: 15 – 20m2
  • Độ sâu cần thiết: 1 – 1,5m

Xung quanh bể xi măng nên có lưới quây cao để đề phòng cá phi ra ngoài (đặc biệt là nuôi cá trê vàng).

Phía trên thiết kế mái che, có thể dùng mái xi măng tấm hoặc mái lá để giảm các tác động của ngoại cảnh (mưa, nắng gắt, gió lạnh…).

Nền bể xi măng nên xây với độ nghiêng khoảng 5 – 10% về phía ống thoát nước. Dưới nền trải một lớp cát dày khoảng 5 – 10cm để khi cá trê tiếp xúc với đáy bể xi măng không bị tổn thương, xước xát. Đồng thời cát cũng có chức năng lọc nước nên sẽ giúp bà con tiết kiệm được một lượng nước sạch để nuôi cá trê.

Điều kiện nuôi cá trê:

  • Độ mặn dưới 5 ‰
  • Độ pH từ 5,5 – 8,0
  • Có thể sống được trong môi trường oxy thấp từ 1 – 2mg/ lít (nhờ cơ quan hô hấp phụ)

Xử lý bể xi măng trước khi thả cá trê:

Nên hoàn thiện bể trước ít nhất 1 tháng khi nuôi cá. Tương tự như mô hình nuôi cá trê ở ao, trước khi thả cá, bể xi măng cũng cần được xử lý. Đối với bể cũ đã từng nuôi thì chỉ cần rửa sạch bằng nước, để ngâm nước khoảng 5 – 7 ngày sau đó tháo nước, rửa lại.

Đối với bể mới xây, bà con dùng phèn chua để ngâm trong bể mục đích làm giảm mùi của xi măng, loại bỏ vụn xi măng còn lại. Cũng ngâm khoảng 5 – 7 ngày thì tháo nước, rửa sạch, tiếp tục ngâm bằng nước bình thường 5 ngày tiếp theo. Xả đi, rửa lại lần cuối cùng là bà con có thể thả cá giống.

Hiện nay, giống cá trê được nuôi thương phẩm phổ biến nhất là cá trê phi và cá trê vàng lai. Bà con có thể xem xét lựa chọn nuôi hai giống này để đạt năng suất cao.

Ở mỗi bể nuôi nuôi nên thả cá trê có kích thước đồng đều để chúng lớn nhanh, giúp bà con dễ dàng chăm sóc.

Để cá giống khỏe mạnh, trước khi thả vào bể, bà con nên ngâm cá trong dung dịch nước muối pha loãng 0,5 – 1% khoảng 5 phút để khử bụi bẩn, khử trùng.

Nuôi cá trê tại nhà, bà con cũng thả vào thời điểm từ tháng 3 đến tháng 10 âm lịch.

Mật độ nuôi: 30 – 50 con/m2.

Cá trê lai ăn gì? Đây là câu hỏi của bà con khi bắt đầu xây dựng mô hình nuôi cá trê lai trong bể xi măng.

Cá trê ăn tạp, chủ yếu thiên về các loại động vật. Bà con có thể tận dụng nguồn thức ăn có sẵn trong tự nhiên, tự sản xuất thức ăn chăn nuôi để giảm chi phí, giúp tăng năng suất sau mỗi mùa vụ. Nguồn thức ăn mà bà con cần chuẩn bị khi nuôi cá gồm:

– Thức ăn từ động vật: các loại tôm, cua, ốc, cá tạp, cá vụn có giá trị kinh tế thấp, trùn quế, giun đất, ếch, nhái…Tận dụng các nguồn phế phẩm từ lò mồ, các nhà máy chế biến thực phẩm tươi sống như: đầu vỏ tôm, da ruột mực, đầu lòng cá… Ngoài ra còn có phân gà.

– Thức ăn từ nông nghiệp: ngô, thóc, đậu tương…

– Thức ăn bổ sung: Chế phẩm sinh học, vitamin, pmix khoáng…

Thức ăn có nguồn gốc từ động vật, đặc biệt lá cá vụn, cá tạp, bà con nên sử dụng máy cắt cá để cắt nhỏ thức ăn, giúp đàn cá dễ ăn, ăn được hết, tránh lãng phí. Đồng thời khi sử dụng máy móc, bà con sẽ không phải tốn công sức ngôi băm thái thủ công, giảm sức lao động.

Mô hình nuôi cá trê lai trong bể xi măng tại Phú Yên sử dụng Máy thái cá 3A

Cám viên cũng là nguồn thức ăn quan trọng trong kỹ thuật nuôi cá trê. Tuy nhiên mua cám cám công nghiệp trên thị trường giá cả đắt đỏ, lên xuống thất thường. Thập chí cám bán qua đại lý nên không thể kiểm tra được chất lượng, chất cấm. Như vậy bà con sẽ phải chịu sức ép từ giá cả và chất lượng đầu ra.

Để khắc phục tình trạng đó, người nuôi, đặc biệt là các mô hình nuôi rộng nên sử dụng các loại hạt ngũ cốc như thóc, ngô, đậu… nghiền nhỏ, phối trộn với nhau và với chế phẩm sinh học theo một tỉ lệ nhất định, dùng máy ép cám viên nổi để ép thành cám viên nuôi cá trê lai.

Cám viên nổi tự sản xuất là loại cảm dành riêng trong chăn nuôi thủy sản. Với ưu điểm nổi được trên mặt nước nên khi cho xuống bể xi măng, đàn cá trê sẽ dễ ăn, ăn hết. Đồng thời giảm tối đa tác động của thức ăn với nguồn nước trong bể.Nguồn thức ăn tự sản xuất có thể dự trữ trong một thời gian ngắn. Bao đựng cám viên nổi cần được kê cao khỏi mặt đất tránh ẩm mốc, để nơi khô ráo, thoáng mát, tránh tác động trực tiếp của ngoại cảnh.

Liều lượng cho ăn:

  • Tháng nuôi đầu tiên: Thức ăn tươi sống sẽ chiếm 20 – 30% tổng trọng lượng đàn cá.
  • Tháng thứ 2: Thức ăn tươi sống chiếm 10 – 20% tổng trọng lượng đàn cá.
  • Tháng thứ 3 – 4: Thức ăn tươi sống chiếm 10 – 15% tổng trọng lượng đàn cá trê.
  • Tháng thứ 5 – 6: Khẩu phần thức ăn tươi sống chiếm khoảng 5% trọng lượng thân.

Cám viên nổi cho ăn hàng ngày với tỉ lệ từ 5 – 7 % tổng trọng lượng đàn cá trong bể xi măng.

Phân gà cũng là một nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng cho cá trê mà bà con có thể tự sản xuất. Phân gà có thể cho ăn trực tiếp, tuy nhiên để giảm ô nhiễm, giảm khí độc, bà con lấy phân gà nuôi kết hợp trùn quế trong thùng xốp hoặc thùng nhựa nhỏ. Thu hoạch trùn quế vừa được phân gà vừa được giun quế cho trê ăn, sẽ rất nhanh lớn.

Một ngày bà con cho cá ăn 2 lần vào sáng sớm và chiều mát. Hàng ngay sau khi cho ăn bà con nên kiểm tra, theo dõi lượng thức ăn còn dư lại để điều chỉnh cho phù hợp, tránh lãng phí.

Tuy cá trê là loài ăn tạp nhưng khi nuôi thương phẩm, bà con không được cho cá ăn thức ăn ôi thiu, ẩm ốc, thức ăn dư thừa… sẽ gây bệnh cho cá, làm ô nhiễm nước trong bể nuôi.

Nuôi cá trê trong bể xi măng tại nhà dễ quản lý. Hơn nữa việc quây lưới và lợp mái xung quanh bể nên hạn chế được những tác động từ ngoại cảnh. Đây là ưu điểm vượt trội hơn hẳn so với mô hình nuôi cá trê trong ao bùn thông thường.

Ngoài ra, bản thân cá trê đã có sức chịu đựng cao với môi trường xung quanh nên công tác quản lý và chăm sóc khá nhàn hạ. Tuy nhiên không vì thế mà chủ quan, bà con vẫn cần nắm được những kỹ thuật chăm sóc cá trê trong bể xi măng.

Mặc dù cá trê có cơ quan hô hấp phụ nên có thể sống ở múc oxy thấp hơn so với các loại thủy sản khác, tuy nhiên nếu nước bể bị ô nhiễm cá sẽ chậm lớn, đồng thời dễ phát sinh dịch bệnh gây hại. Vì vậy khi nuôi, bà con phải định kỳ thay nước bể xi măng khoảng 5 – 7 ngày thay một lần.

Thay nước kết hợp với bón một số chế phẩm sinh học để cải tạo môi trường nước trong bể xi măng, hạn chế dịch bệnh phát sinh.

Nếu thực hiện đúng các kỹ thuật nuôi cá trê trong bể xi măng, cá có thể đạt quy cỡ như sau:

  • Nuôi từ 3 – 4 tháng đạt trên 200 – 300gram/con
  • Nuôi từ 5 – 6 tháng đạt trên 400 – 500gram/con
  • Nuôi 8 – 10 tháng đạt trên 600 – 800gram/con

Đối với cá trê vàng lai và cá trê phi, thời gian nuôi và khả năng tăng trưởng còn được rút ngắn hơn rất nhiều. Thậm chí chỉ sau 3 – 4 tháng nuôi bà con đã có thể thu hoạch. Vì quy trình “vỗ béo” sử dụng cám viên nổi có nguồn gốc từ thực vật, các chế phẩm vi sinh an toàn nên thịt không bị bở mà vẫn ngọt, dai, cạnh tranh tốt trên thị trường.

Không chỉ dễ chăm sóc quản lý mà mô hình nuôi cá trê trong bể xi măng còn giảm bớt nhiều công sức cho bà con trong quá trình thu hoạch.

Bà con có thể đánh tỉa những con to hoặc thu hoạch hết một lượt. Có thể dùng phương pháp thả ống, tháo cạn nước trong bể nuôi hoặc dùng lưới đánh.

Chú ý trong quá trình thu hoạch cần phải tiến hành nhẹ nhàng, tránh làm cá bị trầy xước làm giảm chất lượng giá thành.

Phòng và xử lý một số bệnh thường gặp

Biện pháp phòng bệnh

Trong suốt quá trình chăm sóc, bà con cần chủ động ngăn ngừa dịch bệnh để tránh tốn kém, rủi ro và tổn thất trong quá trình nuôi. Một số biện pháp cụ thể như sau:

  • Bể nuôi cần được xử lý đúng kỹ thuật trước khi thả giống.
  • Thay nước thường xuyên, tránh để nước bị ô nhiễm.
  • Không nuôi ở mật độ quá dày so với khuyến cáo được đưa a.
  • Theo dõi thường xuyên để điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp.
  • Theo dõi hoạt động bơi lội của cá, kịp thời phát hiện dịch bệnh để chữa trị.

Các bệnh thường gặp và cách xử lý

Bệnh thối vi, xuất huyết nội tạng và tiết nhờn ngoài da:

Biểu hiện: Trên phần da của cá trê bị tổn thương, có hiện tượng xuất huyết, để ý kỹ sẽ thấy vi bị thối, da cá có màu sẫm đen hơn. Trên thân và mang của cá có tiết chất nhờn, bơi lội không có định hướng, khó khăn hơn trong quá trình hô hấp

Nguyên nhân: Do ký sinh trùng như Costia, Vodinium, sán lá đơn chủ.

Cách xử lý: Rút nước trong bể nuôi đến mức tối thiểu đủ để cá có thể bơi để dễ quan sát. Sử dụng formalin nồng độ 30 – 50ppm (30 – 50g/m3), bà con tính toán lượng nước còn lại trong bể nuôi để pha thuốc.

Bệnh sưng mình, trướng bụng

Biểu hiện: Trên thân và các tia râu có biểu hiện xuất huyết, râu cong và quặp lại, bụng bị sưng, hai bên gốc vi ngực có hiện tượng nổi hành. Nếu không phát hiện sớm thì cá sẽ dần bỏ ăn, râu treo trên mặt nước, thân tiết và nhiều chất nhờn và chết rất nhanh.

Nguyên nhân: Do loại vi khuẩn có tên là Aeromonas và Cohumnaris gây ra. Nguồn nước trong bể nuôi bẩn, không được thay, xử lý thường cuyên.

Cách xử lý: Tiến hành thay nước 2 ngày một lần, mỗi lần thay khoảng 40% nước tránh để cá bị sốc.Có thể sử dụng chế phẩm sinh học để bón cho bể nuôi hoặc dùng vôi bột lượng 15 – 30kg/1000m2 và muối 120 – 200kg/1000m2, bà còn dựa vào liều lượng này để tính toán thả xuống bể nuôi cho phù hợp, tránh làm ảnh hưởng đến đàn cá.

Bệnh vàng da

Biểu hiện: Trên da của của cá sẽ chuyển dần sang màu vàng nhạt, không được phát hiện kịp thời thì cá sẽ chết rất nhanh.

Nguyên nhân: Do thức ăn bị thối, hỏng, ôi thiu, mốc, nghèo nàn dinh dưỡng. Các loại cám viên không được bảo quản tốt lên nấm mốc.

Cách xử lý: Thay nước trong bể nuôi, thay khoảng 40% nước để cá không bị sốc. Ngưng cho chúng ăn trong khoảng 2 – 3 ngày.Dùng vôi liều lượng 15 – 30kg/1000m2 để bón cho bể nuôi.

Bệnh biến dạng đầu và toàn thân

Biểu hiện: Bệnh này dễ nhận biết do phần đầu bị méo mó, biến dạng, thân hình cong vẹo, nếu lật ngửa con cá sẽ thấy phần cổ ở giữa 2 vi ngực có hiện tượng xuất huyết.

Nguyên nhân: Do thiếu vitamin C và Premix khoáng

Cách xử lý: Duy trì 1g vitamin A/ 1kg thức ăn để bổ sung cho cá (dùng loại vitamin A chuyên dụng cho thú y, bán theo kg). Cho cá ăn liên tục từ 5 – 7 ngày.Bà con có thể bổ sung bảo công thức phối trộn thức ăn ép thành cám viên để vitamin không bị tan trong nước.

Biểu hiện: Thân cá chuyển sang màu đen, phần đuôi nhỏ, đầu thì to, lâu dần mang sẽ bị rụng, ăn ít, bơi chậm.

Nguyên nhân: Bệnh này do vi khuẩn Dactylogyrus gây ra.

Cách xử lý: Dùng nước muối pha loãng nồng độ 3% để tắm cho cá trê khoảng 3 – 5 phút.Sau đó dùng Dipterex 0,25 – 0,5g/m3 để phun trực tiếp cho đàn cá trong bể nuôi từ 1 – 2 ngày.

Video sử dụng Máy ép cám viên nổi 3A15Kw

【#7】Hướng Dẫn Kỹ Thuật Nuôi Cá Chép

Cá chép, cũng giống như các biến thể khác của nó, như cá chép kính (không vảy, ngoại trừ một hàng vảy lớn chạy dọc theo thân; có nguồn gốc ở Đức), cá chép da (không vảy, trừ phần gần vây lưng) và cá chép nhiều vảy, là những loại cá ăn tạp và chúng ăn gần như mọi thứ khi chúng bơi ngang qua, bao gồm các loại thực vật thủy sinh, côn trùng, giáp xác (bao gồm cả động vật phù du) hoặc cá chết.

Tại một số quốc gia, do thói quen sục sạo dưới bùn của chúng để tìm mồi nên chúng bị coi là nguyên nhân gây ra sự phá hoại thảm thực vật ngầm cũng như sự phá hủy môi trường sinh thái của nhiều quần thể thủy cầm và cá bản địa. Tại Úc có các chứng cứ mang tính giai thoại và các chứng cứ khoa học cho thấy việc đưa cá chép vào đây là nguyên nhân gây ra nước đục vĩnh cửu và giảm sút thảm thực vật ngầm trong hệ thống sông Murray-Darling, với hậu quả nghiêm trọng cho hệ sinh thái của sông, chất lượng nước và các loài cá bản địa. Do điều này, nó được những người đánh cá trong những khu vực này gọi là ‘pig’ (lợn) của cá nước ngọt. Tuy nhiên, ở những nơi khác nó được những người câu cá đánh giá cao do kích thước và chất lượng thịt. Ngoài ra, loài cá này cũng được dùng rộng khắp trên thế giới như một loại thực phẩm. Người ta hiện nay đánh bắt chúng cả trong tự nhiên lẫn trong môi trường nuôi thả. Thịt của nó được dùng cả ở dạng tươi và dạng đông lạnh.

Là loài cá đẻ trứng nên một con cá chép cái trưởng thành có thể đẻ tới 300.000 trứng trong một lần đẻ. Cá bột bị nhiều loài cá ăn thịt khác săn bắt, chẳng hạn cá chó ( Esox lucius) và cá vược miệng to ( Micropterus salmoides).

Tại Cộng hòa Czech, cá chép là một món ăn truyền thống trong bữa ăn tối vào dịp lễ Nô en.

Đặc điểm

Thân cá hình thoi, mình dây, dẹp bên. Viền lưng cong, thuôn hơn viền bụng. Đầu cá thuôn, cân đối. Mõm tù. Có hai đôi râu: Râu mõm ngắn hơn đường kính mắt, râu góc hàm bằng hoặc lớn hơn đường kính mắt. Mắt vừa phải ở hai bên, thiên về phía trên của đầu. Khoảng cách hai mắt rộng và lồi. Miệng ở mút mõm, hướng ra phía trước, hình cung khá rộng; rạch miệng chưa tới viền trước mắt. Hàm dưới hơi dài hơn hàm trên. Môi dưới phát triển hơn môi trên. Màng mang rộng gắn liền với eo. Lược mang ngắn, thưa. Răng hầu phía trong là răng cấm, mặt nghiền có vân rãnh rõ.

Khởi điểm của vây lưng sau khởi điểm vây bụng, gần mõm hơn tới gốc vây đuôi, gốc vây lưng dài, viền sau hơi lõm, tia đơn cuối là gai cứng rắn chắc và phía sau có răng cưa. Vây ngực, vây bụng và vây hậu môn ngắn chưa tới các gốc vây sau nó. Vây hậu môn viền sau lõm, tia đơn cuối hoá xương rắn chắc và phía sau có răng cưa. Hậu môn ở sát gốc vây hậu môn. Vây đuôi phân thuỳ sâu, hai thuỳ hơi tầy và tương đối bằng nhau.

Vẩy tròn lớn. Đường bên hoàn toàn, chạy thẳng giữa thân và cuống đuôi. Gốc vây bụng có vẩy nách nhỏ dài. Lưng xanh đen, hai bên thân phía dưới đường bên vàng xám, bụng trắng bạc. Gốc vây lưng và vây đuôi hơi đen. Vây đuôi và vây hậu môn đỏ da cam.

Phân bố

Trên thế giới: Cá chép phân bố rộng khắp các vùng trên toàn thế giới trừ Nam Mỹ, Tây Bắc Mỹ, Madagasca và châu Úc.

Ở Việt Nam: Cá phân bố rộng trong sông ngòi, ao hồ, ruộng ở hầu hết các tính phía Bắc Việt Nam. Cá có nhiều dạng hình như: Cá chép trắng, chép cẩm, chép hồng, chép đỏ, chép lưng gù, chép thân cao, chép Bắc Kạn v.v… là loài cá có giá trị kinh tế cao.

Năm 1984 cá được thu từ tự nhiên và đưa về lưu giữ tại Viện nghiên cứu nuôi trồng Thuỷ sản 1.

Tập tính

Cá chép sống ở tầng đáy cá vực nước, nơi có nhiều mùn bã hữu cơ, thức ăn đáy và cỏ nước. Cá có thể sống được trong điều kiện khó khăn khắc nghiệt, chịu đựng được nhiệt độ từ 0-400C, thích hợp ở 20-270C. Cá có thể sống trong điều kiện khó khăn khắc nghiệt.

Sinh sản

Cá chép là loài có kích cỡ trung bình, lớn nhất có thể đạt tới 15-20kg. Cấu trúc thành phần tuổi của cá chép ở sông Hồng trước đây có tới 7 nhóm tuổi. Sinh trưởng chiều dài hàng năm của cá chép như sau: 1 tuổi là 17,3cm, 2 tuổi là 20,6cm, 3 tuổi là 30,2cm, 4 tuổi là 35,4cm, 5 tuổi là 41,5cm và 6 tuổi là 47,5cm. Tốc độ tăng trưởng giảm dần theo chiều dài nhưng lại tăng dần theo trọng lượng.

Cá chép thành thục ở 1+ tuổi. Sức sinh sản của cá lớn, khoảng 150.000-200.000trứng/kg cá cái. Mùa vụ sinh sản kéo dài từ mùa xuân đến mùa thu nhưng tập trung nhất vào các tháng xuân-hè khoảng tháng 3-6 và mùa thu khoảng tháng 8-9. Trứng cá chép ở dạng dính.Trứng cá sau khi đẻ bám vào thực vật thuỷ sinh. Ở các sông cá thường di cư vào các bãi ven sông, vùng nhiều cỏ nước. Cá thường đẻ nhiều vào ban đêm, nhất là từ nửa đêm đến lúc mặt trời mọc hoặc đẻ nhiều sau các cơn mưa rào, nước mát.

Hiện trạng

– Cá chép ở Việt Nam là loài có nhiều dạng hình khác nhau, tuy nhiên cá lưu giữ là loài cá chép trắng. Cá chép là đối tượng nuôi quan trọng trong ao hồ, được nghiên cứu rất nhiều nhằm tạo giống lai kinh tế, tạo ra các dòng cá có giá trị kinh tế cao.

– Cá chép là loài có giá trị kinh tế, thịt cá thơm ngon nhất là sau mùa cá được vỗ béo, được nhiều người nuôi và người tiêu dùng ưa thích. Đây là đối tượng nuôi quan trọng trong ao, hồ, đầm, ruộng, lồng bè. Cá có thể nuôi đơn hoặc nuôi ghép đều cho năng suất và hiệu quả rất cao. Loài cá này còn được nuôi để diệt ấu trùng muỗi. Cá còn dùng làm cá cảnh trong công nghệ di truyền màu sắc.

– Sản lượng cá chép tự nhiên đã và đang giảm sút hết sức nghiêm trọng do khai thác quá mức. Mặt khác do việc nhập giống, lai tạo, cá ra các vùng nước tự nhiên và lai tạp làm mất dần nguồn gen quý hiếm, bản địa của đàn cá chép trắng Việt Nam.

– Do vậy việc lưu giữ dòng thuần cá chép trắng Việt Nam làm nguyên liệu cho chọn giống, lai tạo các thế hệ con lai kinh tế là hết sức cần thiết và mang ý nghĩa thực tiễn to lớn.

Kỹ thuật cho cá chép đẻ tự nhiên trong ao

Cá chép thuần chủng có thể tự sinh sản được trong ao. Tuy vậy, ở nhiều nơi, do cá trong ao bị lai tạp và thoái hoá, ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng cá nuôi. Trong bài này sẽ giới thiệu cách cho cá chép đẻ tự nhiên theo phương pháp đơn giản để các hộ gia đình có thể chủ động sản xuất được con giống chất lượng cao, đúng thời vụ.

1. Mùa vụ cho đẻ:

Mùa đẻ chính của cá chép là mùa xuân và mùa thu. Trong thời gian này, vào những ngày mưa rào, có thể nhìn thấy từng đàn cá chép vật đẻ. Theo từng nhóm, cứ 2 – 3 con đực kèm sát 1 con cái, bơi lội ven bờ sông hoặc đầm ao, nơi có nhiều cây cỏ, rong, bèo để làm chỗ dựa vật đẻ. Các con đực tranh nhau đến cọ thân mình vào con cái. Cá cái được kích thích sinh dục uốn mình vật vã làm cho trứng phọt ra ngoài. Vỏ trứng cá chép có chất dính nên bám vào cỏ cây, rong, bèo. Ðồng thời lúc đó, cá đực phun ngay tinh dịch, tinh trùng bơi trong nước gặp trứng làm cho trứng thụ tinh. Dựa vào tập tính sinh đẻ của cá chép trong tự nhiên, người ta đã nghiên cứu cho cá chép đẻ theo ý muốn bằng cách tạo ra những hoàn cảnh thuận lợi tương tự.

Yêu cầu của phương pháp cho cá chép đẻ tự nhiên: Vào đầu mùa xuân phải tuyển chọn trong ao nuôi vỗ cá chép bố mẹ những cá đạt tiêu chuẩn sau:

– Cá bố mẹ phải béo khoẻ, toàn thân trơn bóng, không rách vây, không trớt vảy, không bệnh. Có đủ cá đực và cá cái.

– Trứng cá phải căng tròn và rời. Sẹ cá phải trắng và đặc (vuốt xuôi hai bên bụng cá, thấy sẹ

trắng chảy ra như sữa).

Thời vụ cho cá chép đẻ tốt nhất vào mùa xuân. Trứng cá vụ xuân thường nhiều và tốt, nên nhân dân thường cho cá chép đẻ vào vụ xuân là chính (vụ thu chỉ tranh thủ cho đẻ những cá tái phát dục).

Những trạm trại cá giống thường ít quan tâm đến kế hoạch sản xuất cá chép giống, vì sản xuất vài chục triệu cá bột mè, trôi, trắm không khó, nhưng để sản xuất vài triệu cá chép bột trong một vụ lại không dễ, vì số lượng trứng của cá chép ít, phải nuôi vỗ một lượng khá lớn cá bố mẹ, gây tốn kém và mất nhiều diện tích ao. Vì thế, các hộ gia đình nuôi cá ở địa phương nên nắm vững kỹ thuật cho cá chép đẻ tự nhiên để chủ động sản xuất giống cá nuôi.

2. Cho cá đẻ tự nhiên:

* Chọn thời tiết thích hợp:

Nhiệt độ cho cá chép đẻ thích hợp nhất từ 18- 25oC. Trời lạnh dưới 18oC cá chép không đẻ. Trước khi cho cá đẻ, phải nghe dự báo thời tiết để tránh những đợt có gió mùa đông bắc sắp tràn về. Tốt nhất là những ngày đầu xuân, hôm nào trời ấm áp, đêm nằm chỉ đắp chăn đơn, bên ngoài ếch nhái kêu inh ỏi là hôm ấy cho cá chép đẻ tốt.

* Tuyển chọn cá cho đẻ:

Trước khi cho cá đẻ phải kiểm tra cá bố mẹ. Nếu thấy cá có hiện tượng nhô vây, hở đuôi, hay lượn sát ven bờ là trứng, sẹ của cá đã già, cá đã muốn đẻ. Ta bắt vài con lên để kiểm tra cho chính xác. Cách kiểm tra như sau:

Con cái: Khi sắp đẻ, bụng to kềnh, lật ngửa cá lên thấy giữa bụng có một ngấn hằn lõm vào kéo dài từ vây ngực đến tận hậu môn (dọc theo giữa hai buồng trứng). Sờ bụng thấy mềm nhũn, da bụng mỏng, nhất là phía cuối. Lỗ sinh dục đỏ thẫm và hơi lồi. Nếu vuốt nhẹ vào thành bụng, trứng sẽ chảy ra, màu vàng sẫm, trong suốt và rời thành từng cái là trứng đã già. Những cá này có thể cho đẻ ngay đợt đầu.

Kinh nghiệm ở một số cơ sở cho cá chép đẻ cho biết: Những con cá cái bụng to quá mức bình thường, bành ra như bụng cóc, sờ vào thấy mềm nhão thường rất khó đẻ (cá đã thoái hoá). Ngược lại, những con cá cái khi vuốt thấy trứng màu vàng đục hoặc vàng xanh dính vào nhau từng chùm là trứng còn non.

Cá đực: Lúc sắp phóng tinh trùng, nếu vuốt nhẹ hoặc cầm mạnh cá, tinh dịch cũng chảy ra, có màu trắng như nước vo gạo và đặc sền sệt như sữa hộp. Trường hợp tinh dịch còn loãng, tuy vẫn có màu trắng nhưng không đặc quánh là sẹ còn non.

3. Chọn nơi cho cá đẻ:

* Chọn ao cho cá đẻ: Diện tích ao rộng hay hẹp tuỳ theo số lượng cá cho đẻ nhiều hay ít. Chọn ao có đáy trơ, tốt nhất là cát pha sét. Nguồn nước đưa vào ao phải sạch, không chua mặn, không ô nhiễm. Ao được tẩy dọn kỹ, có mức nước sâu khoảng 1m. Có thể dùng bể đẻ cá mè, trôi, trắm, bể ấp hoặc bể chứa nước để cho cá chép đẻ.

* Chọn ruộng cho cá chép đẻ: Nhiều nơi ở miền núi phía Bắc đã có tập quán cho cá chép đẻ tự nhiên ngoài ruộng. Ruộng cho cá chép đẻ thường có diện tích 150- 200m2, đáy đất pha cát, có thể lấy nước vào dễ dàng và luôn giữ được nước. Ruộng cho cá chép đẻ phải được cày bừa san phẳng và phơi nắng mấy ngày cho se cứng đáy (không được nứt nẻ). Bờ ruộng đắp cao hơn mức nước, cao nhất khoảng 50 – 60cm, có máng dẫn nước và cống tiêu nước thuận tiện. Cửa cống dẫn nước phải chắn phên để ngăn cá tạp theo vào ruộng. Trước khi cho cá đẻ, tháo nước vào ruộng sâu khoảng 40 – 50cm. Nếu ruộng đó còn dùng để ương trứng, nên đào sẵn ở góc ruộng một cái hố khoảng 4m2, sâu 0,6m và có xẻ mương sâu 0,2m làm đường cho cá đi lại lên xuống kiếm ăn. Mặt hố có che lá cọ hoặc làm giàn trồng mướp, bầu, bí để che nắng cho cá.

4. Chuẩn bị ổ đẻ:

Thường chọn các loại xơ mềm có nhiều lông tơ nhỏ để làm ổ cho cá chép đẻ trứng cá dễ bám, như: bèo tây, xơ dừa, sợi nilông. Phổ biến nhất là dùng bèo tây, nếu dùng bèo phải chọn loại rễ bánh tẻ. Bỏ hết rễ bèo thối, rửa sạch đất, cặn bám ở rễ và sát trùng bằng nước muối 5% (0,5kg muối ăn pha trong 10 lít nước) hoặc xanh malachit nồng độ 3mg/lít ngâm 15 phút rồi vớt ra thả vào ổ đẻ. Dùng cây nứa quây bèo thành khung hình chữ nhật, để khi cá vật đẻ không làm bèo tản mát. Kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản I cho thấy: Số lượng trứng của mỗi cá mẹ tỷ lệ thuận với khối lượng cá. Cá nặng 1kg thường đẻ 120.000 – 140.000 trứng; cá nặng 1,5kg đẻ 180.000 – 210.000 trứng. Tỷ lệ trứng nở thành cá bột thường đạt 30- 40% (100 trứng nở được 30 – 40 con cá bột). Một khung bèo rộng 1m2 thường có khoảng 180 cây bèo. Mỗi cây bèo thường có 700 trứng bám, vậy cứ 1 con cá cái cỡ 1kg cho đẻ cần 1m2 khung bèo. Bèo thả kín vào khung, khung đặt cách bờ ít nhất 1m ở chỗ nước sâu để khi cá vật đẻ không làm nước bị đục.

5. Thành lập nhóm cá đẻ:

Sau khi kiểm tra cá thấy trứng, sẹ đạt yêu cầu cho đẻ, chuẩn bị xong ao và ổ cho cá đẻ, nếu thời tiết thuận lợi thì bắt cá cho vào nơi vật đẻ. Trước khi cho cá đẻ, cần xác định tỷ lệ đực cái thích hợp, để lượng tinh dịch đủ đảm bảo cho số trứng đẻ ra được thụ tinh hoàn toàn. Cá chép thụ tinh ngoài, tinh dịch của cá đực phóng vào nước bị pha loãng, nếu ít tinh dịch sẽ không đảm bảo cho tinh trùng gặp được trứng để thụ tinh. Trong điều kiện nuôi vỗ tốt có thể ghép 1 cá cái + 2 cá đực, cũng có nơi ghép 2 cá cái + 3 cá đực, tỷ lệ trứng thụ tinh vẫn cao. Khi ghép cá đực vào nhóm đẻ nên xen kẽ giữa con to và con nhỏ để tăng cường kích thích khi cá vật đẻ, tỷ lệ trứng rơi vãi ít hơn vì bèo không đảo lộn và nước không bị xoáy nhiều như khi dùng toàn bộ cá đực to.

Cho cá chép đẻ tự nhiên cần lưu ý:

– Trước khi cho cá đẻ, phải kiểm tra lại ao, ruộng – nơi cho cá đẻ, xem nguồn nước chảy vào có sạch không, mức nước đủ chưa. Nếu đạt yêu cầu sẽ thả ổ bèo xuống. Theo dõi thời tiết để thả cá bố mẹ đúng lúc. Nếu gặp gió mùa đông bắc, trời rét đột ngột nên tạm ngừng việc thả cá. Thời tiết ấm áp, nhiệt độ nước đạt 18 – 250C mới tiếp tục cho cá đẻ. Khi thả, nên thả cá cái vào buổi sáng, thả cá đực vào buổi chiều cùng ngày. Nếu thời tiết thuận lợi, cá có thể đẻ từ 3 – 4 giờ tới 7 – 8 giờ sáng.

– Nếu 5 giờ sáng chưa thấy cá vật đẻ phải bơm nước vào ao hay ruộng (nếu dùng vòi phun làm mưa nhân tạo càng tốt). Thời gian bơm nước 1 – 2 giờ. Có nước mới, cá được kích thích và đẻ. Cá có thể đẻ 2 đêm liên tục. Khi trứng bám vừa phải thì thay ổ mới. Nếu để 2 đêm liền cá vẫn không đẻ, phải bắt cá trở lại ao nuôi vỗ tiếp, khoảng 20 – 30 ngày sau lại cho đẻ.

– Thời gian từ khi cá đẻ đến khi kết thúc thường kéo dài 2 ngày liền và thường đẻ mạnh vào ngày đầu.

Có thể tính số trứng cá đẻ tự nhiên một cách tương đối bằng công thức sau:

Số trứng đẻ được = (P- P’ x 60.000).

Trong đó: P là khối lượng tổng số cá cái trước khi đẻ

P là khối lượng tổng số cá cái sau khi đẻ.

Có thể ước tính số cá bột thu được bằng 30- 40% số trứng, để quyết định diện tích trứng ương thành cá bột.

Kỹ thuật nuôi thịt cá chép

1. Nuôi cá chép với các loài cá khác

Chọn ao nuôi:

Như các ao nuôi cá khác, điều kiện cho ao để nuôi cá chép là: đất không bị chua mặn,gần nguồn nước sạch,không có mạch nước ngầm độc hại gây chết cá. Ao nên đào theo hình chữ nhật (chiều dài gấp rưỡi hoặc gấp 2 chiều rộng) gần chuồng trại chăn nuôi, gần gia đình để tiện quản lý, gần đường giao thônh để dễ vận chuyển cá giống và bán cá khi thu hoạch. Môi trường ao nuôi cá luôn thoáng sạch, không bị ô nhiễm, nhiệt độ nước giao động khoảng 20-30oc, nước ao luôn có màu xanh nõn chuối (độ trong từ 10-20 cm), độ ph từ 6,5-8,5, oxy từ 3-8 mg/l, cò từ 3-10mg/l, nước ao không được có h2s, hàm lượng nh4 nhỏ hơn 1mg/l, hàm lượng sắt tổng cộng không vượt quá 0,2 mg/l, põ khoảng 0,5mg/l và hàm lượng hữu cơ từ 10-20mgo2/l.

Chuẩn bị ao nuôi cá: trước khi nuôi cá, phải chuẩn bị ao theo các bước sau:

– Tu sửa bờ ao, kiểm tra đăng cống, phát quang bờ.

– Tát hoặc tháo cạn ao, dọn sạch bèo, cỏ, vét bùn (nếu lượng bùn quá nhiều), san phẳng đáy, lấp hết hang hốc ven bờ ao.

– Tẩy vôi khắp đáy ao, để diẹt cá tạp và mầm bệnh, bầng cách rải đề từ 8-10kg vôi bột cho 100m2 đáy ao. Nếu trong ao nuôi vụ trước, cá tôm bị bệnh hoặc ao bị chua thì lượng vôi tẩy ao tăng gấp 2 lần (từ 15-20kg/100m2).

– Phơi ao khoảng 3 ngày, bón lót bằng cách rải đều khắp ao 30-40kg phân chuồng đã ủ kỹ và 40-50kg lá xanh (lá thân mềm để làm phân xanh) cho 100m2. Lá xanh được băm nhỏ rải đều khắp đáy ao. Dùng trâu bừa đáy ao 1-2 lượt cho phân xanh và lá lẫn vào bùn đồng thời lấp phẳng đáy ao.

– Lọc nước vào ao khoảng 0,5m, ngâm ao từ 5-7 ngàynước ao sẽ có màu xanh nõn chuối (màu của phù du sinh vật), lọc nươc’ tiếp vào aođạt mức sâu 1m trước khi thả cá. Càn lọc nước bằng đăng hoặc lưới đề phòng cá dữ, cá tạp tràn vào ao nuôi cá.

Tỷ lệ cá chép nuôi ghép:

Tuỳ thuộc vào qui trình cua loài nào là đối tượng chính.

+ nuôi ghép cá chép tronh ao lấy các đối tượng khác là chính thì nên thả cá chép từ 5-10 % và phải tính sao cho mỗi con cá chép có khoảng 10-20m2 đáy ao.

+ nuôi cá chép trong các đầm hồ tự nhiên lấy các đối tượng khác là chính có thể cá chép tới 20-30% nhưng vẫn phải tính toán sao cho mỗi con cá chép không ít hơn 20-30m2 đáy đầm hồ.

+ nuôi ghép cá chép ở ruộng trũng có thể thả với tỷ lệ 50-60% là cá chép nhưng cũng phải tính sao cho mỗi con cá chép có từ 10-15m2 ruộng.

Mùa vụ thả cá giống: Có 2 mùa vụ thả cá giộng nuôi thành cá thịt: vụ 1: từ tháng 2 đến tháng 3 (gọi là vụ xuân) và vụ 2: từ tháng 8 đến tháng 9 (gọi là vụ thu). Mùa vụ thả cá giống thích hợp nhất lá vụ 1, vì thả sớm vào vụ xuân sẽ tận dụng được nhiều thời gian sinh trưởng cảu các loài cá. Người ta thường thả cá giống lưu và thả đủ số lượng cá xuống ao trong khoảng 5-7 ngày đầu, không nên kéo dài thời gian thả cá giống trong cùng một ao.

Xử lý cá giống trước khi thả nuôi:

– Dùng cá thử nước: cắm giai hay rổ thưa xuống ao, thả vào trong đó 10-15 con cá giống. Theo dõi cá từ 20-30 phút thấy cá hoạt động bình thường là được, nếu thấy cá yếu hoặc chết… thì phải tạm ngưng việc thả cá để giải quyết lại nguồn nước đã lấy vào ao. Trước khi thả cá lại ao cũng phải dùng cá để thử nước.

– Tắm cho cá giống đề phòng bệnh: cá giống khi vận chuyển về, trước khi thả, nên tắn qua nước mưới ăn (nacl) nồng độ 3%. Cách tắm: dùng chậu chứa 10 lit nước sạch, hoà tan 300g muối ăn trong nước, dùng vợt bắt cá để tắm trong thời gian từ 10-15 phút.

– Tránh để cá bị “xốc” do chênh lệch nhiệt độ giữa nước ao và nước chứa cá: khi thả cá xuống ao nuôi, để đảm bảo an toàn cho cá, cần chú ý cân bằng nhiệt độ nước giữa 2 môi trường, nhất là cá giống vận chuyển đường xa trong mùa hè có nhiệt độ cao. Cách làm: ngâm túi cá xuống ao từ 5-10 phút trước khi thả. Thả cá: mở giây buộc túi,hai tay ấn dìm một nửa miệng túi xuống nước, cho nước ngoài ao từ từ vào túi, khi thấy cá khoẻ, bơi ngược dòng nước thì thả cá ra ao. Chú ý thả cá ở đầu gió cho cá phân tán nhanh ra ao.

Chất lượng và quy cỡ cá giống:

– Chất lượng cá giống: cá khoẻ mạnh, bơi lội hoạt bát theo đàn, phản xạ nhanh với tiếng động. Khi vớt lên cá quẫy lộn lung tung, toàn thân trơn bóng, không rách vây, không tróc vảy, không khô mình, không mất nhớt, không bệnh.

– Quy cỡ cá giống: tuỳ theo từng loài cá, điều kiện ao nuôi và thời gian nuôi. Đối với ao nhỏ, dể quản lý chăm sóc, thời gian nuôi dài thì thả giống nhỏ. Ao rộng khó chăm sóc quản lý hoặc nuôi trong thời gian ngắn thì thả cá giống lớn.

2. Kỹ thuật nuôi đơn cá chép trong ao

– Ao nuôi

Điều kiện ao và cách chuẩn bị ao nuôi đơn cá chép tương tự như ao nuôi ghép cá chép. Diện tích ao nuôi thích hợp là từ 1.000-2.000m2 tới 2-3ha.

– Mật độ thả

Tuỳ theo cỡ cá cần đạt lúc thu hoạch để định mật độ cá cho phù hợp. Muốn đạt khối lượng cá thịt lúc thu hoạch trong bình 0,3-0,4kg/con sau 6-8 tháng nuôi, thì có thể thả cá giống với mật độ 1 con/1,5-2m2 ao.

Muốn đạt cỡ cá thịt lớn hơn, trung bình 0,7-0,8kg/con lúc thu hoạch thì nên thả mật độ 1 con/3-4m2 ao.

Trong ao nuôi đơn cá chép, có thể thả ghép thêm trắm cỏ (mật độ 1 con/200m2) và cá mè trắng mật độ (1 con/100m2 ao); không thả thêm các loài cá khác.

Chất lượng và quy cỡ cá giống thả trong ao nuôi đơn tương tự như ao nuôi ghép.

Quản lý chăm sóc

– Thức ăn cho cá trong ao nuôi ghép: tuỳ theo cơ cấu thành phần đàn cá nuôi trong ao và năng suất đạt được, thức ăn bổ sung trong ngày bằng 2-3% khối lượng cá trong ao. Thức ăn bổ sung bao gồm:các chất bột ngũ cốc (cám gạo, bột ngô, bột đậu tương, bột sắn…) từ 70-80% và bột cá, bột tôm, cua, ốc, nhái, giun đất, phế thải lò mổ… từ 20-30%. Thức ăn bỗ sung tự chế được trộn đều các thành phần và nấu chín, đùn viên dạng sợi hoặc nắm rải ven ao cho cá ăn, ngày 2 lần sáng và chiều tối. Lượng thức ăn ối thiểu cần đầu tư tham khảo ở bảng 1.

Bảng 1: thức ăn trong ao nuôi ghép cá chép.

Bột ngô, cám gạo: 70-80%

Đậu tương: 10-15%

Khô dầu, bã mắm: 5-10%

Bột cá nhạt: 3-5%

Tất cả nguyên liệu này được nghiền nhỏ trộn đều. Nếu có điều kiện làm thức ăn viên thì thay 10% cám gạo bằng chất kết dính như bột sắn, bột mì…

Nếu không có điều kiện làm thức ăn viên thì sau khi trộn đều, cho nước vào nhào nắm thành từng nắm nhỏ cho cá ăn ngay. Phải cho thức ăn vào các sàn ănđặt cách đáy ao 10-20cm.

Lượng thức ăn hằng ngày được tính (gần đúng) như sau:

Trong tháng thứ 1-2 là 7-10% khối lượng cá trong ao.

Trong tháng thứ 3-4 là 5% khối lượng cá trong ao.

Trong các tháng sau là 2-5% khối lượng cá trong ao.

Tuy nhiên trước khi cho cá ăn cần kiểm tra sàn thức ăn để xem cá có sử dụng hết thức ăn hay không.

Cần định kỳ mỗi tháng kiểm tra sinh trưởng và bệnh cá một lần, cân khối lượng cá của 25-30 để tính khối lượng cá trong ao, qua đó ta điều chỉnhlượng thức ăn cho phù hợp.

* Nuôi kết hợp cá-lợn: là hình thức nuôi rất phổ biến.

– Nếu nuôi lợn quy mô nhỏ (1-2 lợn), chuồng nuôi lợn có thể làm trên bờ hoặc trên mặt ao.

– Nếu nuôi quy mô lớn: chuồng trại phải nuôi ở nơi riêng. Các chất thải của lợn cần phải được chứa vào nơi riêng, ủ trước khi đem sử dụng.

Lượng phân lợn 100kg lợn hơi/ 1 ngày = 5,1kg tương đương 0,34kg cá.

1 năm nuôi 2 vòng, trọng lượng xuất chuồng 100kg/con có thể thải ra một lượng phân 900kg tương đương 60kg cá các loại, bình quân 15kg phân lợn nguyên chất cho 1 kg cá.

Ví dụ: nuôi 1 ha cá đạt năng suất 2 tấn/ha; số lợn cần nuôi là:

2.000kg *15kg/900kg = 33 con lợn/ha tương đương là 0,3 lợn/100m2.

Các loại cá nuôi trong mô hình nuôi ghép cá-lợn: nuôi ghép cá với các loại cá trôi, rô phi, mè làm chính.

* Nuôi kết hợp cá – vịt: là hình thức kết hợp tốt, 2 loại có tác dụng tương hỗ lẫn nhau.

– Ao: cung cấp không gian hoạt động, thức ăn bổ sung cho vịt.

– Vịt: Bơi lội làm tăng oxy cho ao.

Khuấy đảo chất màu, chất thải của vịt làm thức ăn cho cá.

Diệt những động vật ăn tranh thức ăn của cá làm tăng năng suất cá nuôi.

– Cách nuôi:

+ Nuôi quy mô nhỏ: chuồng vịt trên mặt ao, hoặc cạnh bờ ao.

+ Nuôi quy mô lớn: làm chuồng trại riêng trong đó có nơi cho vịt tắm, bơi lội, sàn cho ăn,bể chứa và xử lý chất thải. Dùng chất thải đã xử lý bón cho ao nuôi cá.

Lượng chất thải do 1kg vịt = 76-96gam/ngày.

27,3kg đến 34,5kg/năm = 3,6 đến 4,3kg cá thịt.

– Để nuôi cá thịt đạt 2 tấn /ha cần:

2000kg/3,6kg = 560 vịt nuôi quanh năm

Vịt có thể ăn cá con do đó trong ao nuôi kết hợp cá- vịt cần phải thả cá giống lớn, nước ao sâu trên 60cm.

Công thức thả cá: cá chép nuôi ghép mè, trôi, rô phi làm chính.

* Nuôi kết hợp cá- gà: gà là loại gia cầm nuôi phổ biến, nuôi kết hợp gà-cá đang phát triển.

– Cá đối với gà: ao tạo không gian thoáng mát, giảm được công quản lý, chăm sóc.

– Gà đối với cá: gà cung cấp phân bón, thức ăn rơi vãi( 10-15%), giảm được cong vận chuyển, nơi chứa đựng thức ăn.

– Cách nuôi:

+ Chuồng gà thường được làm trên bờ hoặc trên mặt ao, nuôi gà lấy trứng hoặc gà thịt.

+ Lượng phân thải ra của 100kg gà thịt = 6,6kg/ngày = 0,5 đến 0,6kg cá thịt.

– Để nuôi 1ha cá ao đạt 2 tấn/ha cần 1500 đến 2000 con gà.

100m2 cần 15-20 gà thịt hoặc gà trứng nuôi quanh năm.

– Các loại cá dùng trong nuôi kết hợp gà-cá: những loài cá có sức chịu đựng tốt, thường nuôi ghép: cá chép, trê lai, tra, rô phi, rô hu.

– Bổ sung nước mới vào ao nuôi cá: để ổn định mức nước trong ao nuôi cá, sau 3-4 ngày phải thêm nước mớivào ao khoảng 20-30cm. Những ao có điều kiện tưới tiêu chủ động mỗi tháng 1 lần, có thể rút 1/3 nước cũ ở đáy ao, trước khi thêm nước mới.

– Biện pháp quản lý ao nuôi cá: hàng ngày phải thăm ao 2 lần sáng sớm và chiều tối, để phát hiện các hiện tượng có ảnh hưởng đến ao cá như: hiện tượng cá nổi đầu, nước ao bạc màu, đăng cống hư hỏng, cá bị đánh trộm v.v… người quản lý ao phải nắm vững màu nước ao thay đổi, tình trạng hoạt động của cá trong ao: cá no, cá đói, sức lớn của cá, bệnh tật, nước ao thiếu oxy, nước ao cạn, theo dõi thời tiết,.. Để điều chỉnh kế hoạch chăm sóc và xử lý kịp thời các tình huống có ảnh hưởng xấu đến ao nuôi cá. Ví dụ:

+ Thấy trên sàn ăn còn thừa thức ăn là cá no, phải rút bớt khẩu phần ăn.

+ Thấy trên sàn ăn hết thức ăn, nước ao đục ngầu, là cá đói phải tăng thêm thức ăn.

+ Nước ao giàu dinh dưỡng, có màu xanh lá chuối non.

+ Cá nổi đầu bình thường: vào buổi sáng cá nổi thành từng đán, bơi lội thoải mái, phản ứng nhanh với tiếng động, cá lặn hết khi mặt trời mọc.

+ Cá nổi đầu do ao thiếu oxy hoặc bị bệnh: cá bơi lội dáng mệt mỏi, bơi lẻ tẻ mỗi con một hướng, không bơi theo đàn, ven bờ ao có tôm tép chết dạt… khi mặt trời mọc lâu, cá vẫn chưa lặn. Cần phải cấp cứu: ngừng hẳn bón phân,ngừng cho cá ăn, bơm ngay nước mới vào ao, vớt hết cỏ rác, xác lá dầm, rau bèo, … té nước trên mặt ao hoặc dùng lưới không có chì kéo dồn cá về khu vực có nước mới đang chảy vào ao.

– Giữ mức nước ao từ 1,5-2m để chống nóng và chống rét cho cá. Có thể thả bèo, rau muống rộng 1-2m, ngăn ô quanh bờ ao.

– Kiểm tra ao đột xuất khi có mưa to, gió lớn, bão giông..

– Chống các loại dịch hại bắt cá như: rái cá, rắn nước, chim bắt cá,…

– Phòng tránh các hình thức đánh trộm cá.

【#8】Hướng Dẫn Cách Nuôi Cá Chép

Nuôi cá chép chọn giống V1 (cá chép lai 3 máu) là kết quả lai ghép 3 dòng (cá chép trắng VN, cá chép vẩy Hungari với cá chép vàng Indonesia), vừa được Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I (Bộ Thủy sản) chọn tạo thành công.

Cá chép giống V1 nuôi mau lớn, cho năng suất cao, thịt thơm ngon, bán được giá trên thị trường.

Nuôi cá làm giàu: Tổng hợp đầy đủ nhiều loại thuỷ sản

Ao nuôi cá chép vỗ thành thục cá bố mẹ

Ao nuôi cá chép cái có diện tích 500 – 2.000m2, mức nước sâu 1,2 – 1,5m, đáy có lớp bùn dày 0,15 – 0,2m, bờ cao, không bị rò rỉ, độ pH từ 6,5 – 8.

Ao nuôi cá chép đực chỉ cần rộng 400 – 1.000m2 và cũng có những điều kiện như trên, phải tẩy vôi cho ao với lượng 7- 10kg vôi/100m2. Tuổi cá bố mẹ thích hợp là 2 – 6 tuổi; cỡ nhỏ nhất cá cái: 1kg/con, cá đực: 0,7kg/con. Mật độ nuôi cá cái 10kg/100m2, cá đực 15kg/100m2.

Hàng tuần bón 30 – 40kg phân lợn và 30 – 40kg phân xanh/100m2 ao. Từ tháng 10 – 12 dùng thức ăn hỗn hợp có lượng đạm trên 25% (gồm cám gạo, bột ngô, đỗ tương, bột cá) cho ăn hàng ngày. Lượng thức ăn bằng 3 – 5% khối lượng cá có trong ao. Từ tháng 1 – 2 mỗi ngày cho cá ăn thêm 50 gam thóc mầm.

Cho cá chép đẻ tự nhiên

Chuyển cá bố mẹ vào ao nước sạch. Làm các khung thả bèo lục bình, rong hoặc các loại sợi khác để làm giá thể cho trứng bám sau khi cá đẻ. Vớt các giá thể có trứng bám chuyển sang bể ấp hoặc xếp vào sàn ấp, thường xuyên tưới nước giữ ẩm.

Cho cá đẻ theo phương pháp nhân tạo

Tiêm kích dục tố cho cá cái 2 lần (1 lần vào lúc 5 – 6 giờ chiều, cứ 1 – 2kg cá tiêm 1 não chép; lần 2 vào lúc 1 – 2 giờ sáng, 1kg cá tiêm 3 não chép). Ở nhiệt độ nước 20 – 250C, từ 6 – 8 giờ sau khi tiêm lần 2 trứng sẽ rụng.

Khi đó phải bắt cá nhẹ nhàng, tay bịt lỗ sinh dục, bọc cá trong vải mềm, dùng vải màn thấm khô bụng cá, vuốt nhẹ theo lườn bụng cá xuôi từ phía đầu xuống đuôi. Trứng được hứng vào các bát men lớn hoặc chậu nhựa, bắt ít nhất 2 – 3 con cá đực vuốt nhẹ vào bát hoặc chậu trứng. Dùng lông cánh gà khuấy trộn đều trứng, sau đó đổ nước ngập trứng và tiếp tục khuấy đều trong 5 – 10 phút để trứng thụ tinh. Dùng giá thể để cho trứng bám và đưa vào bể hay sàn ấp… Cá bột sẽ nở hết sau 3 – 5 ngày ở nhiệt độ 24 – 28oC.

Nuôi cá chép giòn ở Miền Tây bằng cây đậu tằm

Tẩy dọn kỹ ao ương cá bột và bón phân chuồng, phân xanh. Mật độ ương trung bình 100 con/m2. Trong 3 tuần ương, mỗi tuần bón 10 – 15kg phân chuồng, 10- 15kg phân xanh/100m2 ao; dùng phân đạm và lân để bón điều chỉnh màu nước. Cho cá ăn bột cám gạo, bột đậu tương, bột cá nhạt trộn lẫn, sao cho đạt lượng đạm 25 – 30%.

Trong 10 ngày đầu, thức ăn phải nấu chín thành cháo, pha vào nước rồi rải đều quanh ao. Những ngày sau, cho cá ăn thức ăn dạng bột, mỗi ngày cho ăn 2 lần vào sáng sớm và chiều mát: cứ 1 vạn cá trong tuần thứ nhất cho ăn 0,2 – 0,4 kg thức ăn tinh; tuần 2 từ 0,4 – 0,5kg; tuần thứ 3 từ 0,5 – 1kg; sau 21 – 25 ngày ương tỉ lệ sống của cá đạt 40 – 70%, cỡ cá 0,6 – 1g/con.

Bón phân và cho cá ăn khi ương cá bột thành cá hương

Điều khác là mật độ ương thưa hơn (10 – 15 con/m2) và phải cho cá ăn nhiều hơn. Cứ 1 vạn cá trong tuần 1 – 2 cho ăn 1 – 4kg; tuần 3 – 4: 4 – 6kg, tuần 5 – 6: 6-8,5kg, tuần 7: 8,5 – 10kg. Cứ 100m2 ao mỗi tuần bón 25 – 30kg phân chuồng, 20 – 25kg phân xanh. Sau 45 – 50 ngày ương, tỉ lệ cá sống bình quân đạt 50 – 70%, cỡ 15 – 20g/con.

Khi nuôi ghép nhiều loài cá trong ao cá thịt chỉ nên thả cá chép với tỉ lệ 5 – 10%, 1 con cá chép cần từ 10 – 20m2 đáy ao. Khi nuôi cá chép ở ruộng trũng có thể tăng tỉ lệ thả cá chép tới 60%. Khi nuôi đơn cá chép muốn có cá thịt cỡ 0,3 – 0,4 kg/con sau 6 – 8 tháng nuôi thì cần thả giống với mật độ 1 con/1,5 – 2 m2; cỡ 0,7 – 0,8 kg/con thả mật độ 1 con/4 – 5m2. Để tạo ra sự phát triển động vật đáy làm thức ăn cho cá cần bón thêm phân chuồng và phân xanh mỗi loại 4 – 6 tấn/ha ao. Dùng cám gạo, bột đậu tương, khô dầu, bột cá nhạt trộn đều với nước rồi nắm lại thành từng nắm nhỏ để cho cá ăn. Theo cách nuôi này, cá chép đạt tỉ lệ sống 80 – 90%; sau 8 tháng nuôi cỡ cá trung bình đạt 0,5 – 0,7 kg/con, năng suất bình quân đạt 2 tấn/ha.

Nuôi cá chép đẻ tự nhiên trong ao

Kỹ thuật đào ao cá: Cách đào ao

1. Mùa vụ cho đẻ: Mùa đẻ chính là mùa xuân và mùa thu.

2. Cho cá đẻ tự nhiên

a.Chọn thời tiết thích hợp: Nhiệt độ thích hợp nhất từ 18-250C. Trời lạnh dưới 180C cá chép không đẻ. Tốt nhất là những ngày đầu xuân, hôm nào trời ấm áp, đêm nằm chỉ đắp chăn đơn, bên ngoài nghe tiếng ếch nhái kêu inh ỏi là hôm ấy chép đẻ tốt.

b.Tuyển chọn cá cho đẻ: Trước khi cho đẻ phải kiểm tra cá bố mẹ. Nếu thấy cá có hiện tượng nhô vây, hở đuôi hay lượn sát ven bờ là trứng, sẹ của cá đã già, cá đã muốn đẻ. Bắt vài con lên kiểm tra cho chính xác. Cách kiểm tra như sau:

Cá cái: Khi sắp đẻ, bụng to kềnh, lật ngửa lên thấy giữa bụng có một ngấn hằn lõm vào kéo dài từ vây ngực đến tận hậu môn. Sờ vào bụng thấy mềm nhũn, da bụng mỏng, nhất là phía cuối. Lỗ sinh dục đỏ thẫm và hơi lồi. Nếu vuốt nhẹ vào thành bụng, trứng sẽ chảy ra, màu vàng sẫm, trong suốt và rời thành từng cái là trứng đã già, những cá này có thể đẻ ngay đợt đầu.

Cá đực: Lúc sắp phóng tinh trùng, nếu vuốt nhẹ hoặc cầm mạnh cá, tinh dịch cũng chảy ra có màu trắng như nước vo gạo và đặc sền sệt như sữa hộp. Trường hợp tinh dịch còn loãng, tuy vẫn có màu trắng nhưng không đặc quánh là sẽ còn non.

3.Chọn nơi cá đẻ

Chọn ao: diện tích rộng hay hẹp tùy thuộc theo số lượng cho cá đẻ nhiều hay ít. Chọn ao có đáy trơ, tốt nhất là cát pha sét. Nguồn nước đưa vào ao phải sạch, không chua mặn, không ô nhiễm. Ao được tẩy dọn kỹ, có mức nước sâu khoảng 1m.

Chọn ruộng: Ruộng thường có diện tích 150-200m2, đáy đất pha cát, có thể lấy nước vào dễ dàng và luôn giữ được nước. Ruộng phải được cày bừa san phẳng và phơi mấy ngày cho se cứng đáy ( không được nứt nẻ)

Bờ ruộng cao hơn mức nước, cao nhất khoảng 50-60cm, có máng dẫn nước và cống tiêu nước thuận tiện. Cửa cống dẫn nước phải chắn phên để ngăn cá tạp theo vào ruộng. Trước khi cho cá đẻ, tháo nước vào ruộng sâu khoảng 40-50cm. Nếu ruộng đó còn dùng để ương trứng nên đào sẵn ở góc ruộng một cái hố sâu khoảng 4m2, sâu 0,6m và có xẻ mương sâu 0,2m làm đường cho cá đi lại lên xuống kiếm ăn. Mặt hố có che lá cọ hoặc làm giàn trồng mướp, bầu, bí để che nắng cho cá.

4. Chuẩn bị ổ đẻ

Chọn các loại xơ mềm có nhiều lông tơ nhỏ để làm ổ cho cá chép đẻ trứng cá dễ bám như: Bèo tây, xơ dừa, sợi nilon. Phổ biến nhất là dùng bèo tây, nếu dùng bèo phải chọn loại rễ bánh tẻ. Bỏ hết rễ bèo thối, rửa sạch đất, cặn bám ở rễ và sát trùng bằng nước muối 5% (0,5kg muối ăn pha trong 10 lít nước) hoặc xanhmalachit nồng độ 3mg/lít ngâm 15 phút rồi vớt ra thả vào ổ đẻ. Dùng cây nứa quây bèo thành khung hình chữ nhật để khi cá vật đẻ không làm bèo tản mát.

5. Thành lập nhóm cá đẻ

Trước khi cho cá đẻ cần xác định tỷ lệ đực, cái thích hợp để lượng tinh dịch đủ đảm bảo cho số trứng đẻ ra được thụ tinh hoàn toàn. Cá chép thụ tinh ngoài, tinh dịch của cá đực phóng vào bị nước pha loãng, nếu ít tinh dịch sẽ không đảm bảo cho tinh trùng gặp được trứng để thụ tinh. Trong điều kiện nuôi vỗ tốt có thể ghép 1 cá cái+ 2cá đực, cũng có nơi ghép 2 cá cái + 3 cá đực, tỷ lệ trứng thụ tinh vẫn cao.

Cho cá đẻ tự nhiên cũng cần lưu ý:

– Kiểm tra ao, ruộng… nơi cá đẻ, xem nguồn nước, chất lượng nước và đặc biệt là thời tiết phải ấm áp, đạt 18-250C.

– Khi thả nên thả cá cái vào buổi sáng, thả cá đực vào buổi chiều cùng ngày. Nếu thời tiết thuận lợi, cá có thể đẻ từ 3-4 giờ tới 7-8 giờ sáng

– Nếu 5 giờ sáng chưa thấy cá vật đẻ phải bơm nước vào ao hay ruộng, thời gian bơm từ 1-2giờ nhằm kích thích cho cá đẻ. Cá có thể đẻ 2 đêm liên tục, khi trứng bám vừa phải thì thay ổ mới. Nếu để 2 đêm liền cá vẫn không đẻ, phải bắt cá trở lại ao nuôi vỗ tiếp, khoảng 20-30 ngày sau lại cho cá đẻ.

Câu Hỏi Thường Gặp

【#9】Hướng Dẫn Phân Biệt Cá Lóc Đồng Tự Nhiên Và Cá Lóc Nuôi Tại Ao

Share Everywhere

Cá lóc là loài thủy sản rất giàu dinh dưỡng và thịt rất ngon. Tuy nhiên, không phải lúc nào người tiêu dùng cũng mua đúng “hàng” tự nhiên. Thậm chí một số nơi còn gắn “mác” cá lóc đồng để bán được giá cao hơn. Vậy, làm thế nào để phân biệt được cá lóc đồng và cá lóc nuôi?

Cá lóc là loài thủy sản rất giàu dinh dưỡng và thịt rất ngon. Trước đây, cá lóc đồng trong tự nhiên có rất nhiều, song, hiện nay số lượng đã suy giảm rất nhiều. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này (ô nhiễm môi trường, lạm dụng thuốc trừ sâu,…) mà có nói đến sáng chắc cũng không hết, bởi thế hiện nay cá lóc đồng được xem là “mặt hàng HOT” rất được người tiêu dùng săn đón.

Tuy nhiên, không phải lúc nào người tiêu dùng cũng mua đúng “hàng” tự nhiên. Thậm chí một số nơi còn gắn “mác” cá lóc đồng để bán được giá cao hơn. Vậy, làm thế nào để phân biệt được cá lóc đồng và cá lóc nuôi?

Cá lóc đồng:

  • Thường có kích thước nhỏ, vảy đen sậm do tập tính sinh sống của cá lóc trong tự nhiên là vùi mình sâu xuống lớp bùn lầy, cũng vì thế mà lớp vảy cá có màu đen sậm và đầu có thon nhọn và rắn chắc. Vì sống trong môi trường tự nhiên nên thân cá ốm trông có cảm giác nhiều xương. Khi mua cá lóc đồng nên chọn những con có trọng lượng từ 0.5 – 1kg sẽ nhiều thịt và săn chắc.
  • Dân buôn dễ đánh tráo cá lóc nuôi chung với cá lóc đồng. Một vài cách nhận biết là cá lóc đồng có vảy màu đen sậm do chúng chui sâu xuống bùn lầy khi sống tự do dưới ao hồ hay ruộng. Đầu trông thon nhọn, nhỏ và rắn chắc; mình trông khá ốm và cho ta cảm giác có nhiều xương. Muốn mua cá lóc đồng ngon thì người mua phải chọn con có trọng lượng khoảng 500 gr – 1 kg. Giá bán: khoảng 110.000 – 120.000đ/kg. Đây là loại làm khô cá lóc đồng ăn rất thơm ngon.

Cá lóc sông:

  • Do được con người nuôi và chăm sóc cho ăn đầy đủ mỗi ngày nên hầu như cá lóc sông con nào cũng béo tròn, đầu cá to và phần thân “mũm mĩm” trông khá nhiều thịt. Bên cạnh đó, do được nuôi nhốt trong các ao hồ nhân tạo hoặc trong túi lưới nên vảy cá không thể có màu đen sậm mà chỉ là màu xam xám. Trên thực tế, hiện nay phần lớn cá lóc được bày bán ở chợ chủ yếu là cá lóc nuôi.
  • Có màu xám lợt, không có màu đen vì do được nuôi trong ao hồ nhân tạo hoặc trong túi lưới, nắng thường xuyên chiếu vào. Đầu cá hơi to, tròn, thân mũm mĩm trông khá nhiều thịt. Giá bán: 60.000 – 70.000đ/kg. Và hơi tanh và nhớt hơn cá lóc thường. Loại cho khô cá lóc nuôi thường 220.000 – 250.000 ngàn / 1kg.

Hầu hết các quán bánh canh cá lóc ở Sài Gòn hiện nay đều chọn cá lóc loại này vì giá thành rẻ lại nhiều thịt. Mặc dù vậy, cá lóc nuôi lại chia thành 2 loại phổ biến: nuôi bè thả sông và nuôi công nghiệp. Trong đó, cá lóc nuôi bè thả sông được ưa chuộng bởi thịt thơm và dai hơn cá lóc nuôi thả công nghiệp, cũng vì thế mà giá thành cũng cao hơn.

【#10】Hướng Dẫn Nuôi Cá Trắm Đen Thương Phẩm Trong Ao

Chúng ta có thể sử dụng ao có sẵn hoặc ao mới đào để nuôi Trắm đen. Diện tích và hình dạng ao tùy thuộc vào điều kiện của từng gia đình, có thể từ vài trăm m2 đến vài mẫu, nhưng tốt nhất chọn ao hình chữ nhật, có diện tích từ 1000-3000m2, độ sâu nước từ 2-2,5m. Những ao này sẽ thuận lợi cho chăm sóc và thu hoạch cá.

1. Vị trí ao nuôi

Ao gần nguồn nước sạch để thuận tiện cho việc cấp nước khi cần và gần hệ thống thoát để hạn chế chi phí khi thay nước và khi thu hoạch.

Ao ở nơi thoáng để ao có thể tiếp nhận được nhiều ánh sáng mặt trời giúp cho các sinh vật là thức ăn cho cá lúc nhỏ có thể phát triển tốt.

2. Bờ ao

Chắc chắn không dò dỉ nước, không có hang hốc. Với ao mới đào tránh sạt lở bờ. Độ cao của bờ ao cần cao hơn mức nước cao tối đa 0,5-0,6m

Trên bờ không nên trồng các cây có tán che phủ lớn vì lá cây rụng xuống ao làm hỏng nước ao, gây thối đáy ao và tán cây che rợp mặt ao gây cản chở ánh sáng chiếu xuống ao làm giảm độ thoáng và hạn chế sự phát triển của thức ăn tự nhiên.

Trên bờ cần phát quang các bụi cây quanh ao để không còn chỗ ẩn nấp của địch hại.

3. Nước

Cá Trắm đen có nhu cầu về oxy cao hơn các loài cá khác. Nếu không đủ oxy cá chậm phát triển, dễ bị bệnh và chết.

Do vậy muốn đảm bảo oxy cho cá phải quản lý môi trường nước ao nuôi luôn sạch, bề mặt ao phải thoáng. Tốt nhất mỗi 500 m2 ao nuôi nên bố trí một máy phun mưa để tăng sự khuyếch tán của oxy từ không khí vào trong nước khi cần.

Mực nước trong ao luôn giữ khoảng 1,5-2m là tốt nhất.

Nước trong ao phải dễ dàng thay được khi cần thiết.

4. Đáy ao

Đáy bằng phẳng và dốc về một phía cống thoát để dễ tháo nước khi thay và rút nước khi thu hoạch cá. Độ dốc đáy ao từ 0,5-1o nghiêng về cống thoát.

Đáy ao phải được nạo vét bùn hàng năm không nên để bùn quá dày dễ bị thối, là nơi cư trú cho các sinh vật gây bệnh cá và sinh ra các khi độc như CH4, NH3, H2S, … Tránh bùn đen, bùn thối.

II. CHUẨN BỊ AO

Muốn có một vụ nuôi thành công thì chúng ta cần phải làm tốt công tác chuẩn bị ao.

Trước khi thả 7 – 10 ngày, ao phải được làm cạn nước, dọn sạch rong, cỏ, bụi cây quanh bờ. Nếu ao mới đào phải phải tạo lớp bùn đáy thích hợp (tốt nhất nên giữ lại lớp bùn bề mặt).

Nạo vét bùn đáy không nên để quá dày, tốt nhất độ dày bùn đáy ao từ 15-20cm.

Sửa dọn bờ ao cho chắc chắn, lấp các hang hốc quanh ao.

Bón vôi tẩy trùng ao 7-10 kg/100m2 để diệt cá tạp và các vi khuẩn gây bệnh cho cá, cải tao nền đáy ao.

Phơi đáy ao 3-4 ngày nhằm khử trùng đáy ao và thoát các khí độc ở đáy ao.

Bón phân gây màu nước ao nhằm cung cấp chất dinh dưỡng tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho cá, giảm độ phèn, giúp cho pH trong ao ít biến động. Liều lượng dùng: phân chuồng 20-30kg/100m2 (Đối với những ao có lớp mùn đáy tốt không nhất thiết cần bón phân)

Lấy nước vào ao: nước khi lấy vào ao phải được lọc qua lưới mắt nhỏ tránh cá tạp, cá dữ theo vào ao nuôi hại cá và cạnh tranh thức ăn. Đặc biệt các nguồn nước tự nhiên hiện nay thường có cá Rô phi con đẻ ngoài tự nhiên dễ theo nước vào ao nếu chúng ta không dùng lưới lọc khi lấy nước, khi đó cá rô phi sẽ cạnh tranh thức ăn cao đạm, đắt tiền khi nuôi cá trắm đen.

III. CHUẨN BỊ CÁ GIỐNG, THẢ CÁ VÀ CHĂM SÓC CÁ SAU KHI THẢ 1. Chuẩn bị cá giống và mật độ thả

Chọn cá giống khoẻ mạnh không xây xát không dị dị hình, kích cỡ đồng đều.

Có thể thả giống bé cỡ 30-50g/con hoặc giống lớn cỡ 200 – 300g/con.

Mật độ thả: đối với giống cỡ 30-50g/con thả với mật độ 2con/m2, với giống cỡ lớn 200-300g/con thả với mật độ 1con/m2 (để tránh lãng phí diện tích nuôi). Khi cá lớn tùy thuộc vào điều kiện nguồn nước khả năng canh tác có thể giãn bớt mật độ nuôi.

Đối với ao nuôi cá trắm đen thương phẩm có thể nuôi đơn hoặc nuôi ghép. Nếu nuôi ghép cần lưu ý đối tượng ghép để tránh cạnh tranh thức ăn với cá trắm đen, hoặc ghép những loài có giá trị cao hoặc những loài có khả năng làm sạch môi trường ao nuôi. Các đối tượng ghép hiện nay có thể thả cá chép, cá mè, cá rô đồng… Mặc dù ghép cá mè trắng trong ao nuôi không có sự cạnh tranh thức ăn và còn làm sạch nước ao nhưng loài này lại cạnh tranh ô xy trong ao nuôi với cá trắm đen rất nhiều, hơn nữa hiện nay giá cá mè trên thị trường rất dẻ nên các hộ nuôi cần lưu ý. Tỷ lệ ghép thường 80% cá trắm đen và 20% các đối tượng ghép khác, riêng cá rô đồng nên nuôi ghép mật độ cao khi mới thả cá trắm đen giống và chỉ nên thả vào vụ Xuân-Hè.

Cá cần được tắm nước muối loãng nồng độ 2% (2 kg muối/100 lít nước) hoặc kháng sinh 30 ppm trong 10 phút trước khi thả cá.

Thả cá vào thời điểm mát trong ngày. Khi thả cá cần được cân bằng nhiệt giữa bao cá và môi trường nước ao nuôi.

2. Thức ăn và cách chăm sóc

Thức ăn sử dụng cho cá trắm đen là thức ăn viên nổi có kích cỡ viên 1-10mm tùy theo kích cỡ miệng cá, thức ăn có hàm lượng đạm cao 40% protein và 10% lipid đối với giai đoạn cá giống; hàm lượng đạm 35% protein và 7% lipid đối với nuôi thương phẩm.

Hàng ngày (hàng tuần) theo dõi, kiểm tra môi trường nước: Nhiệt độ, ôxy hoà tan trong nước, pH, sử dụng các bộ test phân tích đánh giá môi trường nuôi để kịp thời xử lý.

Khi có biểu hiện không tốt về môi trường sẽ có những giải pháp kịp thời như sử dụng vôi xử lý môi trường hoặc sử dụng các loại thuốc, hóa chất, chế phẩm sinh học được phép của Bộ NN & PTNT.

Định kỳ kiểm tra tốc độ sinh trưởng bằng cách kiểm tra ngẫu nhiên 30 con, tính khối lượng cá trung bình hàng tháng để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp (lưu ý khi đánh bắt kiểm tra cần làm nhanh, nhẹ nhàng tránh gây xây sát cá làm cá dễ nhiễm bệnh sau kiểm tra).

Vào thời điểm chuyển mùa cá Trắm đen hay bị bệnh ta nên cho ăn thêm thuốc phòng bệnh có thể sử dụng thuốc Tiên đắc với liều lượng 100g thuốc dùng cho 500 kg cá/ngày cho ăn liên tục trong 3 ngày. Khi thấy cá có dấu hiệu bị bệnh dùng liều gấp 5 lần liều cho ăn phòng và cho ăn liên tục trong 5-7 ngày. Đây là thuốc thảo mộc, có thành phần chính là bột tỏi và tá dược bám dính nên khi sử dụng không ảnh hưởng đến tồn dư kháng sinh trong sản phẩm và không ảnh hưởng đến tốc độ tăng trọng của cá nuôi.

3. Một số bệnh thường gặp và cách khắc phục khi nuôi cá Trắm đen thương phẩm

Khi nuôi cá Trắm đen thương phẩm công nghiệp cá thường bị mắc một số bệnh:

3.1 Viêm ruột xuất huyết do ăn phải thức ăn kém phẩm chất sau nhiễm khuẩn gây viêm và xuất huyết ruột. Để hạn chế thiệt hại dừng ngay thức ăn nghi, thường xuyên kiểm tra thức ăn, tránh cho ăn thừa thức ăn và tránh thức ăn nhiễm nấm mốc, thức ăn có chất lượng kém. Dùng kháng sinh Enrofloxacine trộn thức ăn cho cá ăn 5 ngày liên tục với liều 30-50mg/kg cá/ngày, hoặc dùng thuốc “Fish Health” trộn thức ăn cho cá ăn 5 ngày liên tục với liều 1g/kg ca/ngày, kết hợp bổ sung vitamin C với liều 1g/kg thức ăn cho cá ăn 5-7 ngày 1 đợt.

3.2 Bệnh đốm đỏ giống bệnh đốm đỏ trên cá Trắm cỏ. Cá bị bệnh giảm ăn, dừng ăn, trên thân có biểu hiện tuột vảy, xuất huyết gốc vây, xuất huyết lỗ hậu môn, cơ thể cá chuyển màu tối, cá bơi lờ đờ quanh bờ. Nguyên nhân do đánh bắt, vận chuyển để cá bị xây sát trong môi trường nước bẩn khi đó vi khuẩn gây bệnh xâm nhậm và sinh bệnh. Xử lý bệnh như bệnh Viêm ruột xuất huyết.

3.3 Bệnh ngạt do thiếu khí

Cá Trắm đen khi nuôi thương phẩm rất nhậy cảm với thay đổi thời tiết, mỗi khi thay đổi thười tiết cá thường giảm ăn sau bỏ ăn, thiếu khí và khí độc nhiều gây chết ngạt cho cá nuôi. Khi nuôi cần xử lý môi trường ao nuôi bằng các chế phẩm sinh học thường xuyên và kịp thời cung cấp ô xy và nước sạch khi cần thiết.

Đối với thu hoạch cá trắm đen nên thu hoạch vào các thời điểm: ngày nghỉ (30/4-1/5; 2/9), ngày lễ hội, tết cổ truyền. Các thời điểm này lượng khách tiêu thụ cá trắm đen tăng đột biến nên bán cá thương phẩm sẽ được giá hơn. Trước khi thu hoạch 2-3 ngày cho cá giảm ăn rồi dừng ăn để tránh gây shock cho cá trong khi thu hoạch, vận chuyển và lưu giữ cá. Cá thu hoạch cần đánh bắt nhẹ nhàng, nhanh tránh gây xây sát sẽ giảm giá trị và đặc biệt lưu ý số cá chưa đạt kích cỡ còn lại trong ao nuôi tiếp. Cá thương phẩm cần được vận chuyển bằng nước sạch, mát và cung cấp đủ lượng ô xy hòa tan.